Saturday, February 21, 2015

Những cuộc điện thoại và lá thư (phần 2)

(Nếu chưa đọc, mọi người có thể đọc phần 1 của post này ở đây.)

Trưa hôm nay, 20/2/2015, 6 năm kể từ khi mình nhận được cú điện thoại báo tin đậu UWC, mình đã đi một chặng đường dài. 2 năm UWC đã dạy mình thật nhiều về cách sống, văn hóa ứng xử của phương Tây, khiến mình lớn lên rất nhiều trong suy nghĩ và nhân cách. 4 năm Princeton thực hiện nhiệm vụ còn lại: dạy mình thật nhiều kiến thức, tạo nền tảng hiểu biết vững vàng về môn kinh tế nói riêng và ngành học thuật nói chung. 6 năm này đã chứng kiến biết bao thay đổi về bản thân, trong đó có việc mình bắt đầu rất thích học kinh tế (đặc biệt là kinh tế vĩ mô) và quyết tâm theo đuổi bộ môn này ở Princeton.

4 năm học kinh tế ở Princeton dài đằng đẵng. Năm thứ nhất, ngồi học lớp kinh tế vĩ mô cơ bản (Econ 101) của giáo sư Elizabeth Bogan, mình thật sự bị cuốn hút bởi sự cuồng nhiệt (xin lỗi vì phải dùng tới chữ "cuồng" mới thể hiện hết nhiệt huyết của giáo sư này) của giáo sư Bogan mỗi khi cô thuyết giảng về một chủ đề kinh tế nào. Mình còn nhớ bài đầu tiên là nói về khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2008-2009. Mới ngày đầu đi học đã bị nhồi vào đầu biết bao nhiêu là khái niệm như CDO, CDS, MBS, AIG,... ngày đầu tiên học kinh tế ở Princeton làm mình cũng "khủng hoảng" theo nền kinh tế. Thế nhưng, sau khi đọc thêm, hiểu thêm, rồi đọc thêm nữa, mình mới thấy bộ môn này thiết thực đến mức nào. Cũng trong năm 1, một giáo sư của Princeton, thầy Chris Sims, được trao giải Nobel kinh tế. Hôm đó học sinh kinh tế được cho nghỉ học để đi dự buổi họp báo của thầy. Khi ấy, từ trên hàng ghế lầu 2 của hội trường nhìn xuống, thấy ngưỡng mộ thầy làm sao. Đây là những con người mà, trong suốt cuộc đời của họ, nghiên cứu từ niềm đam mê và một cách gián tiếp cống hiến cho sự phát triển của xã hội.

Thế là sang năm 2, mình tiếp tục học một lèo 6 lớp kinh tế nữa, tất cả đều xoay quanh lý thuyết kinh tế vĩ mô, kinh tế quốc tế, tiền tệ, và khủng hoảng tài chính. Càng học mình càng biết là mình đã không chọn nhầm ngành. Sang năm 3, mình quyết tâm theo học 2 lớp kinh tế vĩ mô dành cho first year PhD students (nghiên cứu sinh tiến sĩ năm nhất). Theo học 2 lớp này, phần là vì mình rất thích kinh tế vĩ mô và đã học gần hết những lớp dành cho sinh viên đại học, phần là vì đạt được điểm cao trong những lớp này sẽ giúp ích nhiều trong việc nộp đơn xin học tiến sĩ sau này. Sang năm 4, mình lại tiếp tục học kinh tế vĩ mô quốc tế - lớp dành cho nghiên cứu sinh tiến sĩ năm 2. Học chung lớp với những nghiên cứu sinh không những mở rộng tầm kiến thức của mình, mà còn tạo nên sự tự tin cần thiết: mình chứng minh được với bản thân rằng nếu mình học thật chăm thì không thể nào thua kém nghiên cứu sinh được.

4 năm học kinh tế ở Princeton dài như thế, cuối cùng cũng đem lại kết quả. Trưa hôm nay, 20/2/2015, khi đang ngồi đau tim chờ kết quả của các chương trình PhD, thì bỗng thấy có một người nào đó bảo là đã được Harvard nhận vào học tiến sĩ, thông báo qua điện thoại. Khi đọc được điều ấy thì mình và đứa bạn cùng nộp đơn học tiến sĩ năm nay hoảng cả lên và mất hết cả tinh thần, vì thông thường khi các trường thông báo cho những người đậu trước, còn những ai không được nhận thì sẽ không nghe thông báo gì mải đến khoảng 1 tuần sau. Hai đứa hốt hoảng cả lên và chat với nhau những câu buồn hiu trên Facebook, nghĩ rằng coi như rớt Harvard rồi. Mình lúc đó đang dùng điện thoại để chat, đang gõ mặt mếu " : ( " giữa chừng thì bị gián đoạn không gõ được, vì có ai đó số lạ gọi vào điện thoại.

Số điện thoại gọi từ Massachusetts.
(Harvard ở bang Massachusetts)

"Điều này chỉ có nghĩa là Harvard đang gọi điện cho mình" - mình thầm nghĩ. Mà gọi điện thì chỉ có báo đậu, chứ không có báo rớt. Vậy là mình đậu rồi sao?

Lúc đó hai tay mình run lên, bấm nút nhận cuộc điện thoại.

"Chào, tôi là giáo sư Helpman của ĐH Harvard, và tôi đang gọi điện cho em để báo rằng em đã được nhận vào làm nghiên cứu sinh cho chương trình tiến sĩ 5 năm bộ môn Kinh tế ở Harvard..." - đầu dây bên kia nói.

Thực ra lần này mình không có cảm xúc vỡ òa như những lá thư hay cuộc điện thoại như những lần trước. Thực ra là không cảm thấy gì. Không có một chút cảm xúc gì.

2 phút sau khi cuộc điện thoại kết thúc, mình mới nhận ra là vì vui quá, shock quá nên mới không biểu cảm được gì. 2 phút sau niềm vui đó mới thấm, tay bắt đầu run, và bắt đầu bấm điện thoại để đánh thức ba mẹ dậy lúc 2h sáng Việt Nam để báo tin vui.

--------

Vào thời điểm này, mình không biết chắc là sẽ đi học ở Harvard hay không (giờ này vẫn đang ngóng chờ cuộc điện thoại hay email nào đó từ MIT). Dù gì đi chăng nữa, có Harvard là kế hoạch dự phòng cũng đã là giấc mơ rồi. 4 năm cố gắng ở Princeton cuối cùng đã được đền đáp. Cuộc điện thoại này là cuộc điện thoại đánh dấu một dấu mốc mới trong cuộc đời :)

Vui lắm ngày 20/2/2015.


Friday, February 20, 2015

Những cuộc điện thoại và những lá thư (phần 1)

2h19' sáng. Từ trong căn phòng ký túc xá ở Princeton nhìn ra cửa sổ chỉ còn thấy cái bóng của những cành cây, một nền phủ đầy tuyết, và những ngọn đèn le lói.

Hôm nay mình có một niềm vui khó tả bằng lời.
Hôm nay, mình nhận được một cuộc điện thoại.

2h19' sáng, cuộc điện thoại ấy vẫn còn mơn mởn trong đầu mình, khiến mình không ngủ được. Chợt nhớ lại, thực ra cũng đã có một vài lần một cuộc điện thoại hay lá thư nào đó đã khiến mình cảm thấy như thế này.

(1) Hôm đó là một buổi trưa hè khi mình còn học lớp 5. Khoảng nửa tháng trước đó, mình đi theo đoàn thi tin học trẻ không chuyên của Bưu điện Ninh Thuận vào Sài Gòn để tham dự cuộc thi tuyển chọn đội tuyển tin học cho ngành bưu điện. Vì mới sắm máy tính và học tin học được mới khoảng vài tháng, năm đó tinh thần là đi thi cho vui (hồi đó mình rất mê đi Sài Gòn, nên bảo đi chơi là đi ngay!). Chắc thành quả lớn nhất của chuyến đi đó là sắm được một con gấu bông cho thằng em trai (lúc đó mấy tháng tuổi) ở nhà.

Trưa hôm đó, lúc mình đang chơi ở nhà hàng xóm thì bị mẹ gọi về đột xuất. Nhìn mẹ có vẻ nghiêm trọng lắm khiến mình lúc đó không hiểu mình đã làm gì sai. Về đến sau bếp thì thấy ba, vừa đi làm về, tay cầm một lá thư đã mở. Ba cũng nghiêm mặt, hỏi:
- "Bữa con đi thi tin học làm bài kiểu gì mà kì vậy?"
- "Dạ thì con thấy bình thường thôi, chứ kì sao hở ba?" - Mình không hiểu đầu cua tai nheo gì, đành hỏi lại.
- "Làm bài kiểu gì mà để người ta viết thư về cho ba mẹ nè?"

Càng lúc càng không hiểu gì, mình đành hỏi lại:
- "Vậy là rớt rồi hở ba?"

Đến lúc đó, ba mẹ không nhịn được cười nữa, liền cười phá ra và nói to: "Đậu rồi! Đi Hà Nội rồi!" Cả ba lẫn mẹ đều nhảy cẫng cả lên. Hóa ra mình đã được chọn vào đội tuyển của ngành Bưu điện để đi thi toàn quốc, phải ra Hà Nội để tập huấn nửa tháng. Sau 5 giây chậm hiểu, cuối cùng mình cũng hiểu chuyện gì đã xảy ra, và cũng nhảy cẫng lên vì sung sướng. Chưa bao giờ mình thấy vui như ngày hôm ấy. Tim đập thình thịch. Cơm trưa ăn không được. Người ta hay nói "sướng nghẹn lòng," mà phải đến lúc đó mới hiểu sướng nghẹn có nghĩa là gì. Cảm giác ấy cứ như có một vật chắn ngang cổ họng, nói cũng khó, mà ăn cũng khó.

Năm đó là lần đầu tiên mình đi xa mà không có người thân đi cùng. Năm đó mình ra Hà Nội học thật nhiều, và được luôn giải Nhì toàn quốc. Không hiểu sao khi những lần sau đoạt bất cứ giải gì, dù cảm thấy sung sướng, vẫn không sướng bằng cái lần đầu nhận đc tờ thư mời đi học ở Hà Nội. Chắc qua thời gian thì mình quen dần với những chuyện đó, nhưng kỷ niệm của lần đầu thì thật khó quên. Lá thư đó là khởi đầu của cả một hành trình học tin học kéo dài nhiều năm liền sau đó :).

(2) Hôm đó cũng là một buổi trưa. Lúc đó mình đang là học sinh lớp 11 Tin trường Phổ Thông Năng Khiếu. Năm đó mình tập trung học thi quốc gia đến tận tháng 3, rồi may mắn được lọt vào phỏng vấn học bổng UWC ở Hà Nội vào cuối tháng 3. Đi phỏng vấn về, dù cảm thấy mình đã rất tự tin và làm hết sức có thể, vì có quá nhiều bạn giỏi giang và xứng đáng cũng cùng đi phỏng vấn, niềm hy vọng mà mình nuôi trong lòng lúc đó thực ra rất mỏng manh.

Hôm đó là thứ 3 - mới 3 ngày kể từ khi trở về từ Hà Nội. Đang ngồi học trong lớp thì cái điện thoại Trung Quốc vỡ màn hình của mình rung liên hồi. Điện thoại của ba. Vì đang ngồi học trong lớp, mình tắt mà không nghe máy. Tầm 5' sau, tin nhắn từ ba viết: "Cô Hải Anh ở UWC mới gọi điện thoại cho ba. Chúc mừng con đã được chọn để học ở UWC ở Mỹ."

Phải nói lúc đó mình không cảm nhận được gì từ thế giới xung quanh nữa. Mình lẳng lặng xin phép thầy ra ngoài, gọi điện liền cho ba để hỏi cụ thể hơn chi tiết. Gọi cho ba mới biết ba vui mừng cỡ nào. Lúc đó mình cũng chỉ muốn hét lên, nếu không phải là vì mọi người đang học ở trong lớp. Hôm đó mình rất vui, vui là vì mình đã chứng minh cho ba được một điều mình muốn làm khi còn bé.

Còn nhớ có một lần trên đường đi biển về, khi dừng lại ở ngã tư vì đèn giao thông, mình nói với ba:
- "Ba ơi, con muốn cấp 3 vô Sài Gòn học. Rồi sau đó đi du học ở nước ngoài."
- "Con muốn đi đâu học ba mẹ cũng ủng hộ, nhưng nhà mình không có điều kiện, nên con tự kiếm được học bổng thì con đi" - ba trả lời.

Câu nói đó của ba là câu nói ăn sâu vào tâm trí, làm mình lúc nào cũng tự nhắc là mình muốn đi trên con đường nào thì phải tự vạch ra con đường đó để đi. Hồi 11 tuổi, mình đã vạch ra và theo đuổi con đường tin học và đạt được những thành công nhất định. Năm lớp 11, mình đã vạch ra con đường du học, mở đầu cho những năm học quý giá ở UWC và Princeton sau này.
----------

Khoảng cách giữa lá thư ở (1) và cuộc điện thoại ở (2) là 6 năm (2003 và 2009). Rất tình cờ rằng, 6 năm sau, chính xác là năm 2015, mình lại nhận được một cuộc điện thoại đổi đời nữa vào ngày 21/2/2015. Post tiếp theo sẽ nói về cuộc điện thoại này :)

Tuesday, November 18, 2014

Những điều cần lưu ý khi viết UWC essays

Năm nay UWCVN tổ chức tuyển chọn sớm hơn mọi năm. Vì thế, thời điểm này đã có rất nhiều bạn "rục rịch" bắt đầu viết những bài essays để kể cho ủy ban tuyển chọn nghe về bản thân mình. Hồi trước, khi làm đơn UWC cũng là lần đầu tiên mình tập viết essays kiểu kể về bản thân như thế này. Những bản nháp đầu tiên thực sự là một thảm họa với vô số những lỗi cơ bản mắc phải (không phải lỗi chính tả hay ngữ pháp, mà là về nội dung). Do đó, mình viết cái post ngắn này để tổng hợp lại một số lỗi thường mắc phải và lời khuyên mà mình tổng hợp được từ nhiều nguồn khác nhau (các anh chị đi trước, writing seminars, etc.). Các bạn nên lưu ý rằng đây chỉ là ý kiến cá nhân mình, không phải là ý kiến của UWC cũng như không mang tính đại diện cho UWC. Vì những bài essays này là bài viết của các bạn, mình khuyên các bạn chỉ xem bài viết này như một tài liệu tham khảo, chứ không phải bài hướng dẫn hay luật lệ gì mà các bạn phải tuân theo một cách tuyệt đối :)

Let's begin!

Đề bài là: "Please write a statement of not more than 300 words explaining why you deserve to study at United World College, describing both what you might contribute to the College and what you would hope to gain from your experience there."

1. Don't try too hard to be creative.
Có những đề bài sẽ tạo chỗ cho bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình, chẳng hạn như đề essay còn lại trong đơn UWC: "Please write a letter to yourself after 20 years." Tuy nhiên, với đề bài như ở trên, điều quan trọng hơn hết là bạn phải trả lời thật cụ thể ba câu hỏi: (1) why you deserve to study at a UWC, (2) what can you contribute to UWC, và (3) what you would hope to gain from a UWC. Nếu bạn có thể trả lời được 3 câu hỏi trên một cách rõ ràng, cụ thể thì xem như bài essay đã khá thành công. Giả sử như có một bạn viết đoạn văn sau để trả lời câu hỏi (3):

"At UWC, I hope to make friends with students from other parts of the world who can share with me their life stories, the uniqueness of their cultures, and their interesting perspectives, those that I could never know of where I come from. I have had this desire to have global friends since childhood because my neighbor was a foreigner from Latin America, and the stories he told never ceased to amaze me. Those stories inspired me to keep learning about other cultures."

Đoạn văn này có hoàn hảo không? Không. Đoạn văn này có trả lời được câu hỏi (3) không? Có, và trả lời một cách khá cụ thể. Giả sử như bạn thí sinh ở trên viết một phiên bản khác:

"A day in November 1995, a Latin American immigrant became my neighbor, and it changed my life. Coming to live in a strange country, his only keepsake of his motherland was the memories and stories that continue to live on in him. From time to time, he would tell me those stories. Each time, I would come to his house, sit down with a cup of hot tea, and let him take me on an adventure in some far, far away land. The stories were so interesting and inspiring that every night I would dream of having friends from all over the world who could keep telling me stories about exotic places. That is why when I read about UWC, I knew right away that this is the perfect place for me..."

(Xin lỗi vì mình nghĩ về 2 ví dụ này ngay tại chỗ nên sẽ có vẻ khá vụng hoặc exaggerated)

Đoạn văn này có thú vị hơn đoạn văn trước không? Chắc có. Tuy nhiên, đoạn văn này tốn khá nhiều từ để có thể đi đến kết luận và ý chính mà bạn muốn diễn đạt. Người đọc, trong suốt 100 từ đầu tiên bạn viết, sẽ phải thắc mắc không biết bạn muốn viết về điều gì. Đôi khi, để viết được một bài viết mang tính sáng tạo, bạn sẽ phải viết nhiều hơn bình thường. Nên nhớ bạn chỉ có 300 từ để trả lời 3 câu hỏi. Vậy nên, nếu bạn có thể viết ngắn và sáng tạo và trả lời đầy đủ, rất tốt. Nếu bạn bị giới hạn vì số lượng từ, nên trả lời đơn giản mà đầy đủ hơn là cố gắng viết quá creative.

2. Write about yourself.

Một điều mà các bạn hay làm (và hồi xưa mình cũng mắc phải lỗi này) là dành nhiều thời gian viết về cái học bổng mà các bạn đang cố gắng nhận được thay vì viết về bản thân các bạn. Chẳng hạn như:

"I believe that UWC is an excellent opportunity that could make my dream come true. With the excellent IB education, teachers who are very passionate about their students, classmates who never cease to inspire, the UWC will prepare me very well for whatever comes ahead in life."

Bạn phải tự hỏi, đọc xong đoạn văn ở trên, ủy ban tuyển chọn sẽ biết được gì về bạn. Đọc xong đoạn văn trên, người đọc sẽ cảm thấy khó hiểu, không biết cái giấc mơ mà bạn nói tới là gì, không biết bạn muốn làm gì. Nói cách khác, bạn dành khoảng 40 từ để viết một đoạn văn mà không mang lại hiệu quả gì.

Khi các bạn xin học bổng, một điều rất tự nhiên là các bạn sẽ nói tốt về cái học bổng mà bạn đang nộp đơn vào. Mình chỉ có một số ý kiến thế này: (1) Tất nhiên ủy ban tuyển chọn hiểu rõ và biết học bổng đó tốt như thế nào, vì vậy bạn không cần lặp lại một điều mà "cả nhà đều biết" nữa; (2) bạn chưa đến học ở UWC, vì vậy bạn cũng không thể nói về UWC một cách chắc chắn như vậy được. Vậy nên, nếu bạn viết cái gì tương tự ở trên, thử cân nhắc lại xem sao. Nên nhớ bạn chỉ có 300 từ. Make every word count.

3. Avoid using adjective

Điều này mình đọc được ở đâu đó khi viết college essay. Thực ra ngay cả khi viết tiếng Việt, sử dụng quá nhiều tính từ để nói về bản thân cũng sẽ khiến người đọc cảm thấy khó chịu. Giả sử như bạn đang nói chuyện với một người, mà người ấy bảo:

"Mình rất là thân thiện. Mình rất tốt bụng. Mình rất tự tin về những phẩm chất tốt đẹp của bản thân mình."

Bạn sẽ cảm thấy như thế nào? Có khó chịu không? Thực ra có khá nhiều bạn viết như thế này trong bài luận, chỉ là bằng tiếng Anh: "I am a friendly person. I am very generous, too. I am very confident about my good qualifications." Nghe có vẻ không khó chịu như khi các bạn đọc tiếng Việt đúng không? Tuy nhiên, đối với ai đó sử dụng tiếng Anh thường xuyên (ủy ban tuyển chọn chẳng hạn) thì những câu như thế này có vẻ không phù hợp. Đôi khi sẽ tạo ra cảm giác là bạn khá kiêu căng, tự phụ.

Vậy thì làm sao để nói với ủy ban tuyển chọn rằng bạn là một ứng cử viên tốt mà không cần phải nói tốt về bản thân? Rất đơn giản: sử dụng động từ! Các bạn hãy kể cho ủy ban tuyển chọn về những việc bạn đã làm mà khi đọc xong, người ta phải đồng ý rằng các bạn có những phẩm chất cụ thể. Chẳng hạn như thay vì nói rằng "I am a very generous person" thì bạn có thể nói "Every Friday, I volunteer at the local Soup Kitchen, where we use ingredients donated by donors to make free soup for homeless people." Đọc xong câu này, người đọc sẽ phải thán phục "Bạn này rất tốt bụng, sẵn lòng dành thời gian để giúp đỡ người khác." Như vậy bạn đã đạt được mục đích quảng bá về lòng tốt của bạn mà không phải khiến người khác có cảm giác là bạn đang tự kiêu.

-----------------

Có vô số những lời khuyên khác mà một người viết chuyên nghiệp (không phải là mình) có thể bảo các bạn. Tuy nhiên, mình nghĩ chỉ cần bạn cố gắng tránh khỏi 3 lỗi cơ bản này thì bài viết của bạn đã có thể trở nên tốt hơn bài viết của rất nhiều thí sinh khác. Một lời khuyên sau cùng của mình là:

BE HONEST!
(Viết thành thực!)

Ý mình không chỉ là bạn phải thành thực với ủy ban tuyển chọn (tất nhiên rằng bạn phải thành thực với ủy ban tuyển chọn), mà còn phải thành thực với bản thân mình. Bạn chỉ có thể thuyết phục được người khác nếu bạn thuyết phục được bản thân mình. Giả như bạn muốn viết về việc bạn thích tìm hiểu những nền văn hóa khác, thì trước hết bạn phải ngẫm về bản thân xem mình có THẬT SỰ thích tìm hiểu những nền văn hóa khác không. Các bạn nên xem quá trình làm đơn này như một cơ hội để mình ngẫm lại bản thân xem mình là ai, mình muốn gì, mình tốt ở những điểm nào, khuyết điểm ở đâu,... Những đề mà ủy ban tuyển chọn đặt ra không chỉ đơn thuần là ủy ban tuyển chọn hỏi bạn, mà còn là để bạn tự hỏi bản thân mình.

Chúc các bạn may mắn và có một kỳ tuyển chọn thành công!

Sunday, September 21, 2014

Sắp xếp lại sự hỗn độn

Sau cả 1 tuần mình vẫn chưa làm quen được với múi giờ của Mỹ: hôm nào cũng ngủ ngày ít nhất 3 tiếng đồng hồ, tối 10h là đắp mền đi ngủ, sáng 4h lại giật mình dậy. Ấy thế mà mình lại thích cuộc sống của mấy ngày hôm nay. Mỗi buổi sáng dậy sớm mình lại chỉn chu bài vở, thỉnh thoảng lại nói chuyện với vài đứa bạn ở Việt Nam, rồi cứ làm việc đến 9h sáng thì đi học lớp tiếng Nhật, sau đó thì mỗi ngày chỉ có thêm 1 hoặc 2 lớp nữa là cùng. Năm nay là năm cuối rồi, vậy mà lịch học lại nhẹ nhàng hơn năm 1, năm 2, năm 3 rất nhiều khi mà mình lúc nào cũng phải chạy đôn chạy đáo hết lớp này qua lớp kia. Lần này về VN khiến mình thay đổi quan điểm rất nhiều, chủ yếu là về xác định lại mục tiêu. Thế là mình bước vào năm cuối với tâm thế thật thoải mái, chỉ học những gì thật sự cần để có thể còn chăm lo cho sức khỏe, tận hưởng cuộc sống, và học thật kỹ những gì mình thật sự quan tâm.

Cho tới nay mình vẫn còn nhớ Việt Nam, nhớ nhà và nhớ bạn bè rất nhiều. Cũng may là năm nay mình ở Spelman - một căn hộ chung với 3 đứa bạn khác - chứ không phải lẻ loi một mình trong cái single như năm ngoái nữa. Năm ngoái ở phòng đơn cũng có cái hay, vì mình có được cái privacy mà từ trước tới giờ chưa bao giờ có. Năm nay ở Spelman lại còn hay hơn: mỗi đứa có phòng ngủ riêng nên muốn sự riêng tư thì có sự riêng tư; còn lúc nào muốn có bạn bè bên cạnh cho đỡ tủi thân thì đã có lũ bạn ở chung nhà nằm ngay sát bên. Mình còn đặc biệt kết cái nhà bếp ngay trước phòng mình. Mỗi sáng, mình có thể đủng đỉnh đi ra nhà bếp, với tay mở tủ chén, lục đục lấy sữa và ngũ cốc, hay trứng và bánh mì gì đó làm một bữa sáng ăn nhẹ, rồi bưng ra ngoài phòng khách nơi mà bao quanh mình không phải là 4 bức tường, mà là 1 bức tường kính to thật to, nhìn thẳng ra một thảm cỏ xanh ngát từ cái lầu 2 của nhà mình. Chỉ có ở đây mình mới cảm giác như không phải đang ở ký túc xá mà là đang ở nhà của riêng mình vậy. Dạo này mình cũng thích ngồi trong phòng khách hoặc ra ban công vừa uống một tách trà a-ti-sô nóng, vừa ngắm ra cái thảm cỏ thật thanh bình ấy.

Trong cái note lần trước mình đã nói rằng trong lòng mình hiện đang rất hỗn độn vì một chuyện tình cảm. Bây giờ mình vẫn còn cảm thấy tình cảm đó mạnh mẽ như vậy, chỉ bớt hỗn độn hơn. Mình cảm thấy thật sự may mắn khi có thể chơi chút ít đàn guitar, thích hát, và có chút khả năng viết nhạc. Hôm thứ 4 tuần trước, khi trong đầu mình đang sắp nổ tung vì những suy nghĩ hỗn độn về chuyện tình cảm kia thì rất may mình đã viết được một bài hát, đã xuất bản trên youtube và soundcloud. Viết nhạc, theo mình, cũng giống như là có được một người bạn thân vô hình mà mình có thể chia sẻ bất cứ tình cảm, cảm xúc gì mình có. Ít ra một người đặc biệt nào đó thông qua bài hát của mình cũng có thể thấu hiểu tâm tư của mình hơn. Mấy hôm nay mình cũng cảm thấy vui vui vì lâu lâu lại được chat vài dòng với người đặc biệt này. Thực ra mang trong người một tình cảm nặng nề như vầy, nhưng mình cũng chỉ mong có thế: lâu lâu được nói chuyện hay nghe giọng của người ấy là mình vui rồi.

Người ta hay nói, trên đời hạnh phúc nhất là khi yêu và được yêu. Lần này, mình cảm thấy rằng có được một người để yêu là cực kỳ hạnh phúc rồi. :)

Monday, September 15, 2014

Hỗn độn

5 giờ sáng ở Princeton.

Tối qua sắp xếp phòng ốc dọn dẹp xong xuôi thì cũng mệt nhừ cả người ra. Hình như dù mình có vượt Thái Bình Dương bao nhiêu lần đi nữa thì cũng không bao giờ quen được cái hành trình 24 giờ này. Rồi năm nào đến trường cũng chưa kịp hoàn hồn nghỉ ngơi thì đã bị khối lượng công việc ở Princeton dần cho một trận. Ít ra cách đây 3 năm mình còn phấn khởi, hồ hởi vì nhiều điều mới lạ; còn bây giờ năm cuối rồi mọi thứ đã quen thuộc đến mức chán chường. Có lẽ vì thế mà 5 giờ sáng ở Princeton, mình chỉ có thể cảm thấy lạc lõng giữa một mớ hỗn độn những cảm xúc của 1 tháng qua ở Nam Phi và Việt Nam, khi có quá nhiều chuyện xảy ra quá nhanh khiến mình chỉ biết sống và trải nghiệm qua ngày, chứ không thể tiếp thu và cảm nhận được.

Vì trong đầu mình có rất nhiều suy nghĩ, bài viết này chắc cũng sẽ rất "hỗn độn": những chuyện liệt kê dưới đây có thể không liên quan gì với nhau hay theo bất cứ trình tự nào.

1. Mém chút nữa là mình đã xin tạm gác lại 1 năm học ở Princeton để ở lại Việt Nam. Lần này về Việt Nam, gặp các bạn và anh chị, nghe kể và giới thiệu về những điều mà mọi người làm khiến mình phải suy nghĩ lại về cuộc đời một xíu. Từ trước tới giờ mình tự hào về khả năng định hướng cho tương lai của bản thân và khả năng làm việc hết mình để thực hiện cái định hướng đó. Mình có lẽ cũng chưa bao giờ cảm thấy hối tiếc với con đường mình chọn hay những ngã rẽ mình đã đi. Tuy nhiên, đôi khi đi trên con đường quá thẳng hàng này, mình không biết là mình có đang bỏ lỡ những ngã rẽ khác thú vị hơn hay không. Cuộc đời là một ván cược: Rẽ nhiều quá thì dễ đi vào ngõ cụt, đi thẳng thì sẽ tránh được những rủi ro không cần thiết và giúp mình có thể tiến nhanh hơn. Nhưng, mình có đang đi nhanh quá hay không?

2. Dạo này mình gặp được rất nhiều người và kết khá nhiều bạn. Trước đây mình thường chỉ có bạn trong phạm vi lớp học hay trường học; nay chắc vì ra đời nhiều hơn nên phạm vi bạn bè từ lứa tuổi đến khoảng cách địa lý cũng được mở rộng hơn rất nhiều. Hôm bữa ở Cape Town vô tình mình gặp một cặp tình nhân ở sân bay Cape Town: một nhạc sĩ người Nam Phi 19 tuổi và cô bạn gái 25 tuổi của cậu ta. Chắc vì hợp tính hay sao mà chỉ bắt đầu từ việc cùng nhau phàn nàn về chiếc xe buýt bị trễ mà mình với hai bạn ấy trở nên khá thân thiết. Tối hôm đó với vài hôm nữa mình lại được rủ đi ăn tối hay party cùng nhau. Tình bạn chỉ trong vòng mấy ngày mà chơi với nhau thoải mái như đã là bạn cả chục năm rồi.

Hôm bữa đi xuống Cape Point, đỉnh cực nam của Nam Phi, thì lại quen được một cô nghệ sĩ piano người Bỉ khoảng 50 tuổi, khi mà cả hai quyết định trở thành travel buddies vì cô ấy không có máy ảnh tốt (cô ấy khá old-fashioned, chỉ dùng một cái máy Fujifilm chụp phim, mà còn đem ko đủ phim để chụp hết những cảnh núi non và biển hùng vĩ của Nam Phi), còn mình thì cần người chụp hình cho mình. Nhưng đi với nhau cả ngày leo núi leo vách cùng nhau lại cũng hóa thân, hàn huyên đủ thứ trên đời. Nếu như lúc mới gặp mình chỉ thấy cô ta có vẻ như một người phụ nữ lớn tuổi bình thường, thì đi cả ngày mới biết là cô này tài năng và thông minh cỡ nào. Mình cũng chưa thấy ai yêu hoa và cây cối như cô này. Đi trên đường mình chỉ thấy đẹp, chứ đâu bao giờ dừng lại sờ, ngắm, ngửi, cảm nhận như cách cô này chỉ mình đâu. Tiếng Anh của cô khá hạn hẹp, nên khi được người ta giới thiệu bằng tiếng Anh thì cô không hiểu, nhưng đọc tên khoa học tiếng Latin thì cô nhớ ra ngay loại hoa này là hoa gì.

Một hôm khác khi đi thử rượu ở làng Franschhoek nổi tiếng gần Cape Town, mình được giới thiệu để ở nhà ông bà nội của một thằng roommate khi hồi ở UWC. Khi đến làng, mình còn chưa kịp bớt đi cái sự ngạc nhiên trước một vẻ đẹp rất đơn sơ của một làng trồng nho làm vang, thì đã được chở lên lưng chừng vách núi, ở một cái nhà vị trí cao nhất trong cả làng. Ông bà nội của thằng bạn mình sau khi nghỉ hưu quyết định xây một cái nhà trên vách núi này, kế bên một dòng suối nhỏ. Ông nội nó trước đây làm nghề của mình: ông là một nhà kinh tế trưởng cho một tập đoàn lớn của Nam Phi. Bây giờ mỗi ngày ông tự chặt cây, chắn suối để tạo ra thiên đàng cho riêng mình, và mỗi lúc mệt, ông có cả một quang cảnh hùng vĩ để ngắm dưới chân mình. Cả một ngôi làng lẫn mấy dãy núi xung quanh đều gói gọn trong tầm nhìn của ngôi nhà. Tối đó mình được ngồi trong nhà, quấn chăn (đang là mùa đông), uống một ly cà fê nóng, ngắm ra những ô cửa kính lớn để thưởng thức ngôi làng nhỏ ở dưới chân núi trong màn đêm phủ mờ sương. Đó có lẽ là một trong những đêm hiếm hoi mà mình cảm thấy thực sự an bình mà không phải lo lắng về gì cả. Mình thấy xây nhà ở vách núi như ông là một chuyện điên rồ, nhưng chỉ có những người điên rồ như vậy mới có được những trải nghiệm hiếm có trong cuộc sống.

3. Trái tim cứ hay thử thách mình, toàn chờ đến những năm mang tính quyết định trong việc học hành của mình để quyết định nhồi nhét vào mình tình cảm cho một ai đó nhiều đến mức nghẹt thở. Năm cuối của phổ thông, khi đang apply ĐH thì bỗng dưng si tình rồi; nay đến lượt khi đang apply cho PhD (hệ học tiến sĩ) lại bị dính vào những tình cảm hỗn độn này nữa. Người ta hay nói tình cảm mà sớm nở thì sẽ chóng tàn, rồi cũng sẽ phai đi nhanh thôi; nhưng theo kinh nghiệm của bản thân mình, một đứa mà lúc nào cũng đợi rất lâu để gặp được đúng người mình thích, thì lần trước khi có một tình cảm sớm nở thì mình cũng đã giữ cái tình cảm đó cho bạn ấy gần 2 năm. Thôi thì tình cảm của mình làm sao mà nói trước hay dự đoán được gì. Cứ ra sao thì ra.

Sunday, March 16, 2014

Giá trị thực, giá trị danh nghĩa, giá trị có điều kiện

Tựa đề của bài viết này lạm dụng một số thuật ngữ của bộ môn Kinh tế - như GDP thực và GDP danh nghĩa – nhưng thực ra những gì mình viết dưới đây không liên quan gì đến những giá trị kinh tế. Sau một tuần dài thi cử vất vả, suốt ngày làm bạn với sách vở, thì cuối cùng mình cũng đã có thời gian để ngồi xuống, uống ly café từ từ, và suy nghĩ về những câu hỏi mình đã trăn trở vài tuần nay. Bài viết này là cố gắng đầu tiên của mình để trả lời câu hỏi: “những thành tích nào có giá trị thật, và thành tích nào không?”

Trước tiên mình xin giải thích hoàn cảnh của câu hỏi này. Sự thật là mấy tuần này, mỗi khi bận rộn, mình lại cố gắng nghĩ xem thử mình có những giá trị nào, hoặc giả như có một thị trường để mua bán giá trị con người, mình sẽ đáng giá bao nhiêu. Vì thế mình thử tưởng tượng một thế giới không có mình, và thế giới ấy có vẻ không khác mấy với thế giới bây giờ, ở nhiều mức độ. Ví dụ như, khoa Kinh tế của trường mình chắc cũng sẽ là cái khoa nằm ở tòa nhà Fisher của trường, dù có hay không có một thằng sinh viên học kinh tế vĩ mô và biết một hay hai điều về kinh tế. Sau đó mình lại nghĩ về rất nhiều người bạn. Nhiều bạn ở Việt Nam đã và đang tích cực tham gia tổ chức nhiều dự án, giúp ích nhiều cộng đồng nghèo. Sau đó có nhiều bạn bè UWC đi khắp các nơi trên thế giới và cố gắng để đấu tranh cho các vấn đề xã hội mà các bạn mong muốn thay đổi. Rồi tiếp đến có các bạn sinh viên Princeton đã lập nên những khởi nghiệp của riêng mình.

Rồi tiếp đến có mình, người mà, với cây bút và tờ giấy, ráng giải một phương trình vi phân hay học về lý thuyết tối ưu động của lý thuyết kinh tế vĩ mô. Mình bắt đầu cảm thấy mất kiên nhẫn, và chắc mình sẽ mất kiên nhẫn nhiều lần nữa trong 6 năm tới ở trường sau đại học. Vì thế, mình cố gắng làm một điều có ích cho bản thân: phân loại những điều mình đã đạt được để xem mình có làm được điều gì có giá trị thực hay chưa.

Điều đầu tiên mình phân vân là chuyện mình được vào học ở Princeton, và sau nhiều suy nghĩ mình kết luận rằng thành tích này chỉ có ‘giá trị có điều kiện’. Mình sẽ định nghĩa khái niệm này sau khi giải thích rõ hơn về nó. Khi còn học trung học cơ sở, mình cố gắng thật nhiều để vào trường phổ thông tốt. Sau đó mình cố gắng để vào trường đại học tốt. Bây giờ thì mình đang cố gắng vào trường cao học tốt, sau đó thì chắc sẽ cố kiếm việc làm tốt, vân vân và vân vân. Những mục tiêu này là một dòng chảy không ngừng nghỉ những ước mong của con người, và hiện hữu ở mọi người. Mỗi chúng ta ai ai cũng đã từng đi theo dòng chảy này trước khi dừng lại ở một điểm nào đó. Điều quan trọng là, chúng ta nên dừng ở đâu? Nếu nói suông, không ai có thể kết luận rằng dừng lại ở đại học thì tốt hơn trường phổ thông, hay ở cao học thì tốt hơn đại học, vì cuộc đời đã chứng tỏ rằng có nhiều thành công và thất bại ở mỗi trường hợp. Có những người chỉ học hết phổ thông, nhưng rất thành công trong kinh doanh, và có người học hết tiến sĩ, nhưng không thành công mấy trong mọi thứ (đặc biệt là vô số tiến sĩ Việt Nam), kể cả ở vai trò chính của một người tiến sĩ: viết một bài nghiên cứu có ích. Nếu như thế, yếu tố nào quyết định giá trị của việc được chọn vào một ngôi trường tốt, như ĐH Princeton, chẳng hạn? Để trả lời câu hỏi này, giả sử rằng sau khi tốt nghiệp đại học, mình đi về nhà và quyết định làm một nghệ sĩ viết nhạc (đang lấy thí dụ thôi), thì việc mình vào ĐH Princeton hay một đại học nào của Việt Nam không có sự khác biệt. Vậy rõ ràng việc mình vào ĐH Princeton không có một giá trị thực nào, mà chỉ có giá trị có điều kiện, vì giá trị của việc vào được ĐH Princeton phụ thuộc vào giá trị của những việc mình làm được sau khi học ở Princeton. Như vậy, những giá trị có điều kiện là những giá trị mà ý nghĩa của nó phụ thuộc mạnh mẽ vào những giác trị khác. Giá trị có điều kiện thường nguy hiểm, vì nó dễ khiến người ta lầm tưởng bản thân nó là giá trị thật. Chính vì điều này mình không thích khi nhiều bạn gọi nhau bằng công thức “tên + tên trường,” ví như một số bạn Việt Nam gọi mình là “Vũ Princeton” cứ như rằng cái trường là giá trị của mình. Nó không phải.

21 tuổi đời là một giai đoạn của cuộc đời khi mà hầu hết những giá trị mỗi chúng ta mang trên mình là có điều kiện, và bản thân chúng ta là những người quyết định rằng những giá trị đó sẽ trở nên giá trị thực hay giá trị danh nghĩa. Mình định nghĩa giá trị thực của một người là những điều mà tạo nên một ảnh hưởng nhất định đối người đó, gia đình và bạn bè, hay cộng đồng của người đó, còn giá trị danh nghĩa của một người là những điều nghe tên có vẻ tốt, nhưng nếu giá trị ấy không tồn tại thì cuộc sống của người ấy, gia đình, mọi người liên quan và cộng đồng xung quanh sẽ không có gì thay đổi. Chẳng hạn như, điểm số mà mình cố gắng thật nhiều và dành rất nhiều thời gian để đạt được sẽ không có ý nghĩa gì nếu mình không vào được trường sau đại học tốt (điều này lại là một giá trị có điều kiện khác). Một ví dụ khác, kiến thức mình đã học về tối ưu hóa động, chuỗi Markov hay những lý thuyết kinh tế vĩ mô khác sẽ có giá trị thực hay danh nghĩa tùy thuộc vào mình: nếu mình viết được một bài nghiên cứu mà đóng góp được một sự hiểu biết mới mẻ, thì những kiến thức trên sẽ có giá trị thực; ngược lại giá trị của chúng chỉ tồn tại trên danh nghĩa, vì nếu không có các kiến thức trên, thì cuộc sống của mình, mọi người và hòa bình thế giới sẽ không có gì thay đổi.

Thông thường, bất cứ ai muốn hướng tới một ‘cuộc sống vui vẻ,’ cuộc sống có phẩm giá (theo Aristotle – cuộc sống tốt nhất là cuộc sống vui vẻ, là cuộc sống của phẩm giá) đều muốn hướng tới những giá trị thực thay vì danh nghĩa. Vấn đề ở đây là (1) đôi khi chúng ta quên mất mình đang cố gắng làm gì (bị mất phương hướng), hoặc (2) lầm tưởng rằng những giá trị có điều kiện và giá trị danh nghĩa là giá trị thực. Vấn đề thứ nhất (vấn đề mình đang có) là thông thường với mỗi người trong một thời gian ngắn, nhưng vấn đề thứ hai là nguy hiểm, vì khi đó chúng ta sẽ dừng lại, không hướng tới điều gì thực. Vậy nên, điều quan trọng nhất đối với mỗi người ở mọi thời điểm là biết được những giá trị mình có, giá trị nào là thực, là danh nghĩa, là có điều kiện.


Chỉ một chút suy nghĩ khi có ít thời gian rỗi.

Friday, January 24, 2014

Không thể và có thể

Lưu ý: bài viết này dành riêng cho các em học sinh tỉnh nhỏ, và đặc biệt là Ninh Thuận, đang suy nghĩ về nộp đơn xin học bổng UWC. Nếu các em có nghi ngờ về bản thân, xin hãy đọc một ít suy nghĩ của mình. 
-------------------------------------

Mình xin bắt đầu bài viết này với một câu nói của một nhân vật nổi tiếng:


"Bạn không thể nối liền các dấu chấm khi nhìn lên phía trước; bạn chỉ có thể nối chúng thành đường khi nhìn lại đằng sau. Do đó, bạn phải đặt niềm tin rằng những dấu chấm đó sẽ, bằng cách nào đó, nối liền bạn đến tương lai của bạn. Bạn phải tin vào một điều gì đó: linh tính, số phận, cuộc sống, luật nhân quả, bất cứ điều gì. Bởi vì, chỉ có niềm tin rằng những dấu chấm sẽ kết nối với nhau khi bạn đi về trước mới cho bạn đủ can đảm để nghe theo trái tim bạn, ngay cả khi nó dẫn bạn ra khỏi con đường quen thuộc." - Steve Jobs.


Năm lớp 11, khi chuẩn bị nộp đơn xin học bổng UWC, mình cũng không biết "dấu chấm" này sẽ nối mình đến đâu. Lúc đó công khó 2 năm rèn luyện để thi HSG QG bảo với mình rằng nếu ở lại Việt Nam, mình có thể tiếp tục cố gắng để đi xa hơn là giải Nhì Quốc gia (năm ấy mình không đủ điểm để dự thi vòng chọn đổi tuyển quốc tế). Phương án còn lại, mình có thể thử sức với học bổng này, nếu được thì sẽ đi đến một nước nào đó trong 2 năm. Tuy nhiên, lúc đó mình không biết liệu mình có thực sự thích môi trường UWC hay không, và, sau UWC thì mình sẽ làm gì. Nếu may mắn, mình sẽ vào được một đại học nào đó của Mỹ. Nếu không được nhận vào một trường nào của Mỹ với học bổng toàn phần (vì điều kiện gia đình không cho phép du học với học bổng bán phần), mình sẽ phải về Việt Nam và học lại từ đầu phổ thông (vì mình sẽ phải rút hồ sơ khỏi trường). Đối với mình lúc đó, khả năng xảy ra của nguy cơ này là rất lớn. 


Đúng là, năm lớp 11, nhìn lên phía trước, mình không thấy các quyết định trong cuộc đời mình sẽ dẫn mình đến đâu. Thế nhưng, từ vị trí của mình bây giờ nhìn trở lại, mình không nghĩ rằng mình đã có thể đi một con đường nào khác tốt hơn.


Hôm trước, mình có nói chuyện với một cô bạn người Thụy Điển, bạn học ở UWC với mình, và bây giờ cũng đang học ở Princeton, khoa Kỹ sư Tài Chính (full: Operation Research and Financial Engineering). Sau một cuộc nói chuyện dài, cả hai đều đồng ý rằng có rất nhiều sự tiến bộ trong cuộc sống hàng ngày mà khi so sánh giữa hôm nay và hôm qua chúng ta sẽ không nhận ra. Chỉ đến một vài năm sau, khi đã đi đủ xa và leo đủ cao, lúc nhìn lại chúng ta mới thấy mình đã đi xa đến đâu và leo cao chừng nào. Cô bạn này, khi mới sang UWC, không biết một hàm số f có nghĩa là gì (vì chương trình toán phổ thông của các nước Scandinavia không nặng như ở VN). Khi đó mình có dạy thêm cho bạn ấy ngoài giờ học, đôi lúc cũng thấy nản vì ngay cả những phương trình và bất phương trình siêu cơ bản cũng có vẻ khó đối với bạn ấy. Thế mà, hai năm sau, bạn ấy thi Tú tài Quốc tế đã đạt điểm cao nhất của thế giới (tuyệt đối - 45/45), cao hơn cả mình. (Ba mình hay nói đùa, rằng mình toàn dạy cho bạn thi cao điểm hơn mình haha) Bạn ấy cũng được chọn vào ĐH Princeton với học bổng toàn phần với mình, và bây giờ đang học ở một trong những khoa nặng toán học nhất. Rõ ràng, chỉ khi nhìn lại, cả hai đứa mới nhận ra rằng mình đã làm được điều mà cách đây một vài năm mình tưởng rằng không thể.


Nói đến đây không phải để khoe với mọi người rằng chúng mình đã làm những điều tưởng như không thể. Vẫn có rất nhiều điều không thể khác mà mình không biết bao giờ mới thực hiện được. Tuy nhiên, sau khi đã đi một chặng đường dài, thử sức bản thân với các điều lạ, mình nhận ra rằng đúng là mỗi cá nhân đều có một giới hạn cho khả năng của mình. Tuy nhiên, chúng ta không biết giới hạn của mình ở đâu, và sẽ có nhiều thời điểm chúng ta rất muốn nghĩ rằng mình đã đạt tới giới hạn của mình. Sai! Chính những suy nghĩ như thế đã khiến chúng ta đầu hàng ngay trước khi cố gắng.


Lần này đối với học bổng UWC cũng thế. Đừng nhìn vào nó như một nguy cơ, một gánh nặng, một nỗi lo gì cả. Đơn giản cứ nghĩ về UWC như một cơ hội - một cơ hội mà nếu nắm được các bạn sẽ không có gì để hối tiếc :)


Bonus cho các em một tấm ảnh của lâu đài Montezuma - một phần của trường mình (UWC-USA)

Tuesday, January 21, 2014

Không gian và Tâm trí

Mấy hôm nay thi cử, phòng ngổn ngang nên cứ phải tất bật chạy chỗ này, chạy chỗ kia để học. Dạo này mình thích ngồi ở Starbucks vào buổi đêm, chọn một chiếc bàn vuông dưới ánh đèn, rồi cứ thế ngồi học đến nửa đêm, trong tiếng nhạc đồng quê và tiếng người ra vào mua cà phê. Nhiều đứa hỏi, "làm sao mày có thể học được ở chỗ ồn ào như vậy được?", và mình không biết trả lời sao ngoài việc biện minh rằng "Tao quen với tiếng ồn rồi". Thực ra cái Starbucks ở Princeton có một không gian khá tối và cũ kĩ, nhưng cái không gian đó có một sự lãng mạn: mình có thể ngồi từ trong, chầm chậm làm công việc của mình để rồi thỉnh thoảng có thể nhìn ra ngoài ngắm những người bước vội trong đêm lạnh. Có lẽ chính sự bôn ba của người ở ngoài khiến mình quý hơn những khoảnh khắc bình tĩnh của mình ở bên trong.

Tối hôm qua lại khác. Chắc có lẽ bài thi từ chiều kết quả không được như mong muốn, hay vì một số chuyện không vui khác bỗng dưng xảy ra trong cùng một ngày, nhưng tối qua ở Starbucks không còn điềm tĩnh và tập trung như mọi khi. Thế là mình bước vội về phòng chỉ dể thấy một bãi chiến trường khác ngổn ngang hơn tâm trí của mình. Cái nệm ở dưới đất (mình thích ngủ dưới đất), đống đồ sạch chưa xếp ở trên giường, đống đồ dơ này ngay bên dưới, và một mớ dây nhợ nằm lộn xộn trước cái lò sưởi mà trường không cho phép mình dùng. Vì phải chuẩn bị thi cử nên mình đã viện đủ lý do để không dọn dẹp cái phòng của mình, thế nhưng tối qua mình tự hỏi: Phòng mình lộn xộn vì đầu mình lộn xộn, hay thực ra nó là điều ngược lại?

Nhớ lần trước, cái tuần mà mình nghỉ Thu một tuần để ở nhà chuẩn bị cho bài luận văn năm 3 (Junior Independent Paper) của mình. 4 ngày đầu, cái phòng của mình cũng y chang, bừa bộn không thể tả. Và trong 4 ngày đầu đó, mình không nghiên cứu được gì cả - ý tưởng cứ lộn xộn, suy nghĩ và đọc mãi mà không có gì ra hồn. Càng ngày càng bực bội, đến ngày thứ 5, sau khi dậy sớm buổi sáng và đi dạo vòng quanh trường, mình mới quay về phòng với cái đầu tĩnh lặng hơn, và mình từ từ dọn phòng.

Tối hôm qua cũng thế, mình dành 1 giờ đồng hồ để dọn phòng, và đó là 1 giờ thoải mái nhất của mình trong cả ngày. Mình không phải là đứa thích dọn phòng, nhưng những lúc như thế này lại khiến mình có cảm giác rằng mình không chỉ dọn phòng, mà còn đang sắp xếp lại chính cuộc đời của mình. Tối qua mình ngủ ngon hơn, sáng nay tỉnh táo hơn, học hành tốt hơn. Và bây giờ giữa trưa, khi tuyết đang rơi trắng xóa ngoài khung cửa, ngồi trong phòng vừa học vừa nghe những bài nhạc instrumental khiến mình nhẹ lòng.

Đủ nhẹ để viết một cái blog post, điều mà mình đã không (dám) làm cả một học kì bận bịu này. Vẫn còn 2 môn thi nữa, và mình không biết mình sẽ lo lắng như thế nào trong phòng thi. Nhưng ngay bây giờ, điều duy nhất mình cảm nhận được là âm nhạc và sự thoải mái.

-------------------------
Và bài nhạc sau là mình lúc này đây:
 http://www.youtube.com/watch?v=Sn2vzbCN-fw&list=PL882FF1DD806C86AA

Thursday, September 26, 2013

Hai câu chuyện nhỏ

Một năm nữa lại trôi qua, nhanh đến không ngờ. Mới ngày nào còn ngồi lụi cụi gõ blog bài El Papá để chúc mừng sinh nhật ba mình, giờ loay hoay đã lại đến sinh nhật ba.  Cả ngày hôm nay vắt óc ra nghĩ sinh nhật ba mình ở xa thì làm được gì ngoài viết vài dòng chúc mừng để cho xứng đáng, nhưng cái đầu cạn nghĩ lại không nghĩ ra được điều gì ngoài việc kể ra đây 2 câu chuyện ngắn mới diễn ra trong hè này mà chứng tỏ ba mình là tuyệt vời nhất:

1) Khi ba phải thi lên chuyên viên chính, trong đó có một môn điều kiện là môn tiếng Anh, ba đã về hỏi mình ngay để mình ôn tập lại tiếng Anh cho ba. Chắc ít ai tuổi ngoài 40 lại kê bảng học 12 thì hiện tại, quá khứ, và tương lai, cũng như thức dậy 3h sáng mỗi đêm để ráng học thuộc bảng động từ bất quy tắc như ba của mình. Mình đã phục ba nhiều điều: tài văn thơ, cầm ca, kỹ năng giao tiếp, tính cương quyết, lòng quan tâm đến mọi người, và nhiều thứ khác. Nhưng chỉ thông qua đợt dạy tiếng Anh cho ba này mình mới học ngược lại từ ba đức tính kiên trì.

2) Khi mình bị tai nạn giao thông, lúc mình bảo mình có thể ở qua đêm trên núi rừng Bác Ái thì ba cương quyết đưa mình về Bệnh viện Tỉnh khám ngay lập tức. Ngay cả khi bác sĩ bảo mình "không bị sao", nếu không vì ba cực kỳ quyết đoán và quyết định đưa mình vào Tp. HCM ngay trong một buổi sáng, chắc giờ mình cũng đã không biết thực tế tình hình của mình nghiêm trọng thế nào. Qua dịp này mới thấy, mình chỉ được giỏi quyết đoán chuyện thiên hạ, và trong những tình huống khẩn cấp liên quan đến bản thân và người thân thì ba mình mới đúng là lý trí sáng suốt và là trụ cột cho cả nhà.



Chuyện về ba kể không hết, và hai câu chuyện nhỏ này chỉ là một trong vô số những điều diễn ra trong đời mà mỗi điều vẽ thêm nhiều phương diện và khía cạnh đẹp của con người ba trong mắt mình.

(Princeton, 09-2013)

Thursday, September 19, 2013

Kinh tế: Chuyện như mới bắt đầu

Ngẫm lại thì hai tuần vừa rồi khá bận cho những tuần đầu năm học. Nhiều em học sinh năm nhất cứ ngây thơ hỏi, "Làm sao để chúng em có thể quản lý quỹ thời gian của mình một cách tốt nhất?" mà không hề biết rằng trong khi mình cố sức đưa cho các em những lời khuyên thì bản thân mình cũng lo lắng biết bấy nhiêu. Lo chứ, vì đây là học kì đầu mình học chuyên sâu về môn Kinh tế.

Đầu tiên là môn Kinh tế lượng (Econometrics), đáng ra cũng không đến nỗi khó lắm nếu như mình không đang được học với Chris Sims, nhà kinh tế của Princeton vừa đoạt giải Nobel năm 2012. Năm ngoái khi nghe tin thầy đứng lớp dành cho sinh viên đại học thì cả bọn trong khoa kinh tế cảm thấy sướng rơn, vì thiên về bộ môn này chắc ít ai dám khẳng định mình thấu hiểu hơn Giáo sư Sims. Thế nhưng, học xong bữa đầu tiên hồi tuần trước, đi đâu cũng nghe những nỗi niềm hoảng loạn của học sinh, còn mình thì sợ chết đứng. Vốn dĩ theo trường phái Bayesian - một trường phái của Thống kê "đối lập" với trường phái tần suất học (frequentist) - thầy không ngần ngại bỏ ra một bài giảng để thuyết phục chúng tôi rằng những gì sách giáo khoa đang dạy có thể không phải là phương án tốt nhất. Thầy cũng không ngần ngại bỏ ra một bài giảng thứ hai để truyền cho chúng tôi thông điệp rằng "Rất nhiều sách giáo khoa về Kinh tế lượng đang cố gắng thuyết phục các em tin rằng thứ họ dạy là tốt, còn tôi đứng đây là để đặt cho các em nhiều hoài nghi, để các em không ngừng tự hỏi khi đọc những kết quả thống kê". Sau ba buổi học, và sau khi đã bình tâm trở lại (và bản thân thầy cũng dạy chậm lại khi nghe nói học sinh không theo kịp những suy luận nhanh như điện của thầy trong lớp), thì nghĩ kĩ mới thấy mình thật may mắn mới được học một người "gieo rắc hoài nghi" vào suy nghĩ của học sinh như thầy. Nói như Steve Jobs là "Stay Hungry, Stay Foolish", tạm dịch là hãy cứ đói kiến thức, hãy cứ nghĩ rằng mình là kẻ ngu (để rồi còn động lực để học hỏi thêm).

Rồi còn môn Kinh tế Vĩ mô của lớp nghiên cứu sinh tiến sĩ (PhD). Ở Princeton, khoa Kinh tế có đặc cách cho những sinh viên đại học có khả năng được quyền ngồi học chung những lớp đại cương của các nghiên cứu sinh tiến sĩ. Thế là mình cũng mày mò (ham hố) theo học lớp Kinh tế Vĩ mô, ngành mà mình muốn nghiên cứu sau này. Sau hai tuần học, mình mới thấy đây là một quyết định sáng suốt. Đó không phải vì cái danh "học lớp của nghiên cứu sinh", không phải vì cái lợi là được thể hiện mình trong việc nộp đơn sau đại học, mà đó là vì mình có dịp suy ngẫm lại lúc mình học Kinh tế Vĩ mô cấp dưới mình (và chương trình) đã không cẩn thận như thế nào. Một khuyết điểm của môn Kinh tế học là tạo rất nhiều giả định để đơn giản hóa vấn đề, và dường như chương trình kinh tế ở đại học người ta đã đơn giản hóa vấn đề ấy quá mức khiến nó trở nên khó hiểu. Ngẫm lại mới nhớ ra hồi trước học Kinh tế Vĩ mô trung cấp đã có nhiều điều được xem là mặc nhiên, mình phải chấp thuận, mà rất may là học đến đây được gặp Giáo sư Rogerson, người cũng giống như giáo sư Sims, luôn bắt học sinh tự đặt câu hỏi ngược về những điều mà mình viết trên trang vở. Thầy hay hỏi những câu bất ngờ, những câu thường đơn giản, mà ít ai có thể trả lời được, hay thậm chí chưa bao giờ để ý. Có lẽ học lớp này đang và sẽ khiến mình trân trọng hơn cái bộ môn mà mình thích, vì nó lấp đầy những chỗ trống mà người ta tạo ra khi cố gắng đơn giản hóa vấn đề cho học sinh cấp dưới.

Thôi, ngồi nghỉ giải lao 20 phút có thời gian blog để kể lể những cảm nghĩ (dưới áp lực) sau những "ngày đầu tiên đi học". Giờ mới thấy mình đang bắt đầu học kinh tế.

Princeton, 19/9/13.

Tuesday, September 10, 2013

Đi chậm

9 giờ 10 phút tối ngày 8 tháng 9. Lúc đó tôi bước nhanh, nhanh hết sức có thể, để kịp rời khỏi chiếc tàu lửa trước khi nó lại lăn bánh rời ga. Nhà ga dành 10 phút cho hành khách chuyển tàu để về Princeton mà đối với tôi khi bình thường là dư thừa nay lại cảm giác như một cuộc đua với thời gian. Nhiều người trước mặt đi càng ngày càng xa, trong khi những người sau lưng lần lượt vượt mặt tôi; tất cả đều hối hả để bắt kịp chuyến tàu về trường. Trong 10 phút ấy, những cử động của tôi dường như là những cảnh phim quay chậm trong một thế giới thực vẫn quay nhanh. Sau 10 phút ấy, tôi nhìn đoàn tàu rời ga trong khi mình mới chỉ đi được 3/4 quãng đường.

5 giây tủi thân.

Bây giờ về tới Princeton, ngồi ở một cái bàn được bạn tôi giúp chuyển đến bên cạnh một khung cửa sổ mang dấu ấn của một tòa lâu đài cổ, nhìn ra một góc sân vuông cũng đậm chất cổ kính. Căn phòng mới của tôi cũng có một lò sưởi kiểu cũ, cái kiểu mà khi xưa được kết nối với ống khói để ông già Noel chui vào. Mặc dù không được phép đốt lửa trong lò, cái lò sưởi ấy cùng cái sàn gỗ và góc sân nhìn ra từ cửa sổ khiến tôi cảm giác ấm lòng. Ngẫm lại thì kiến trúc lâu đài gothic là một trong những lý do đầu tiên khiến mình thực sự thích Princeton, và bây giờ vẻ đẹp của lối kiến trúc ấy vẫn khiến mình ngưỡng mộ. Ít ra, ngồi tại đây, với mọi việc đã ổn định và được sắp xếp tương đối ổn thỏa, tôi cảm giác mình đang ở nhà, hòa bình và yên ả.

Pyne Hall - khu ký túc xá của tôi năm nay
Photo (c) Princeton Interactive Map

Tôi ngồi gõ những dòng này với cái chân bị bó thẳng. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi nghĩ tôi hiểu được nỗi khổ của những người khó hoặc không thể đi lại tự nhiên. Nhất là những lúc những bó cơ ở bắp chân co thắt lại như chuột rút khi đang đứng, hay lúc đang nằm thì không thể dịch chuyển vì chân không thể co quá 45 độ. Tệ nhất là 3, 4 hôm trước, có khi mình không dám ngồi vì không biết là ngồi rồi còn đủ sức đứng lên không. Tuy cái chân đôi lúc làm tôi thấy nản, nhưng nhiều khi tự nghĩ, con người thì cũng lúc này lúc kia. Chắc phải ngã mới hiểu được đau, để rồi mình quý cuộc đời hơn khi mình đứng dậy đi tiếp.

Đi chậm lại cũng có nhiều cái hay. Nếu không vì dịp này chắc bây giờ mình đang không ngồi yên trong phòng suy nghĩ chuyện đời như bây giờ. Đi chậm lại cho tôi thời gian để suy nghĩ về nhiều thứ, trong đó có tình bạn. Qua đợt về Việt Nam lần này, và trong những lúc khó khăn, tôi mới hiểu được là ai thực sự quan tâm đến mình, ai quan trọng đối với mình, và ai chỉ là những người bạn xã giao. Chỉ một điều mình không nghĩ ra là mình đã làm gì tốt cho các bạn đâu mà lại có được những người bạn quý giá như vậy? Có những con người cho để rồi nhận lại, một cách thực dụng, và có những con người cho mà không toan tính. Tôi thấy mừng vì rất nhiều bạn bè của mình là kiểu người thứ hai.

5 giây hạnh phúc.

5 giây hạnh phúc.



Tuesday, May 14, 2013

Con chó ở khu nhập cư Haiti (Những câu chuyện ở bang Florida phần 2)

(Viết vào 25/3/2012)

Ở Trung tâm Lao động Miami, chúng tôi làm đủ mọi thứ. Công việc tốn thời gian nhất là một cuộc vận động từng gia đình rằng Trung tâm có hỗ trợ tư vấn pháp lý cho những ngôi nhà sắp bị thu hồi. 3 ngày liền, mỗi ngày 2-3 tiếng, chúng tôi đi vòng quanh những cộng đồng dân cư của thành phố Liberty, chủ yếu là cộng đồng người nhập cư từ Cuba (Little Havana) và cộng đồng người Haiti (Little Havana), cùng với những người nhập cư gốc Latin khác. Mỗi buổi chiều, chúng tôi nhận được một danh sách dài của những nhà sắp bị ngân hàng thu hồi (vì không đủ khả năng trả nợ mua nhà), và chúng tôi đến từng nhà để nói với họ rằng họ có thể được tư vấn pháp lý miễn phí.

Tôi đặc biệt thích công việc này. Gõ cửa từng ngôi nhà một có thể hơi... rùng rợn. (Tôi hay tưởng tượgn từ ảnh hưởng của phim Mỹ rằng nếu mình gõ cửa nhà một người lạ nào đó, họ sẽ xuất hiện với khẩu súng trên tay) Tất nhiên sự thật không đến nỗi thế, nhưng cũng không có gì lạ nếu ai đó đóng cửa lại ngay trước mặt mình. Ngoại trừ cái cảm giác "rùng rợn" đó ra thì có một điều khiến tôi rất tihsch công việc này: Tôi nghe được rất nhiều câu chuyện đời của những người cần được lắng nghe. Một buổi chiều, Tôi gặp một người phụ nữ chủ nhân một ngôi nhà mà không hay biết rằng căn nhà mà cô ta thuê sắp bị đóng cửa. Cô ấy rất hoảng hốt và hỏi chúng tôi làm sao để xử lý vụ này. Sau đó cô ấy nói chuyện với chúng tôi suốt 20 phút liền - cứ như là chưa có ai chịu lắng nghe cô ta nói - về chuyện cô ấy bị lừa bởi người cho vay tiền mua căn nhà trước như thế nào. Điều khiến tôi ngạc nhiên là có nhiều người rất cởi mở, dù cho đối với những người lạ như chúng tôi. Sau khi chúng tôi chia tay và đi khỏi căn nhà được vài bước, cô ấy chạy theo đưa cho chúng tôi một lọ dung dịch rửa tay (hand-sanitizer) và nói: "Chắc các bạn phải bắt tay nhiều người lắm."

Tuy nhiên câu chuyện đáng nhớ nhất là ở một ngôi nhà GẦN NHƯ bị bỏ hoang. Vật dụng trong nhà rất ngổn ngang, như thể người chủ ngôi nhà không cảm thấy cần phải dọn dẹp ngôi nhà nữa. Dù gì, họ cũng sắp bị đuổi đi. Tôi gọi vọng vào từ ngoài cổng, rồi một người đàn bà người Haiti bước ra. Bà ta có vẻ mệt mỏi, và tỏ ra buồn phiền khi chúng tôi nói về chuyện thu hồi nhà cửa. Đúng lúc đó, tôi đang chơi với một chú chó trong khu vườn trong khi đồng nghiệp của tôi nói chuyện với người chủ. Bà chủ nhận ra tôi rất thích chú chó, nên bà hỏi "Cậu thích nó à? Thích thì tôi cho." Tôi cười từ chối, đơn giản vì Princeton không cho phép tôi nuôi chó trong khu kí túc xá.

Ngày hôm sau, chúng tôi tình cờ đi ngang ngôi nhà ấy một lần nữa. Lần này chúng tôi gặp người chồng của người đàn bà ngày hôm qua. Con chó thấy chúng tôi rất mừng, chạy vượt ra ngoài hàng rào để đùa giỡn. Khi thấy tôi chơi với chú chó, ông ấy hỏi: "Cậu thích nó à? Thích thì tôi cho." 

Đúng lúc đó, tôi nhận ra được chuyện gì đang diễn ra. Họ rất muốn đẩy chú chó đi cho người khác vì họ không thể giữ nó được nữa. Hôm qua tôi vô ý - đúng là khi người ta bị đuổi ra khỏi ngôi nhà của họ chưa biết đi đâu, thì giữ một chú chó như vậy là một gánh nặng. Buồn thay, trong khủng hoảng kinh tế, chó cũng là nạn nhân. Tiếc rằng tôi phải từ chối một lần nữa. Lần này, khi chúng tôi bước đi xa khỏi ngôi nhà, chú chó không ngừng chạy theo chân tôi, như thể muốn đi theo. Người đàn ông gọi chú chó lại để chúng tôi có thể đi. Nó đứng lại ở giữa hai bên, nhìn từ bên này sang bên kia như phân vân không biết nên chạy với ai, rồi nó chạy về với chủ cũ của nó.


Tấm bảng đen (Những câu chuyện ở bang Florida phần 1)

(Viết vào ngày 25/3/2012)

Tuần trước, tôi đi một chuyến đến thăm bang Florida cùng 10 học sinh Princeton khác để học và thị sát hậu quả của khủng hoảng thị trường nhà ở đây. Lúc đầu, tôi định viết một bài blog mỗi ngày của chuyến đi, nhưng lịch làm việc của nhóm mỗi ngày kéo dài từ 9am-8pm (họp hành, hoạt động tình nguyện,...) khiến tôi không thể viết được nhiều như mong muốn. Chúng tôi đi đến một số thành phố khác nhau: Fort Myers, Lehigh Acres, Miami, Miami Beach, Overtown,  và thành phố Liberty. Ở mỗi thành phố, chúng tôi đã có cơ hội đi thăm những ngôi nhà bị bỏ hoang hoặc bị ngân hàng thu hồi, nói chuyện với một số tổ chức phi chính phủ, gặp mặt với một số cơ quan Chính phủ (trong số đó, nhóm chúng tôi đã được mời ăn trưa cùng với thị trưởng của thành phố Miami Beach), vận động dân chúng (gõ cửa từng nhà một để vận động người dân không bỏ nhà cửa để trốn nợ nần, cũng như bảo người dân rằng họ có cơ hội được tư vấn luật miễn phí). Vì chúng tôi đã làm khá nhiều việc, toi quyết định viết bài blog này theo kiểu "kể truyện", tức là, tôi sẽ kể lần lượt những câu chuyện có ảnh hưởng sâu sắc nhất với tôi trong toàn chuyến đi.

Chuyện thứ 1: Tấm bảng đen
Marc Joseph là một trung gian nhà đất - "cò nhà đất" hiểu theo nghĩa của người Việt Nam. Ông ấy hơi khác với những "cò" khác: Sau năm 2008 (năm mà giá nhà Mỹ lao dốc và hàng trăm ngàn người bỏ nhà ra đi), ông ta mua một chiếc xe buýt vào sinh nhật lần thứ 40 của ông ấy để cung cấp tour miễn phí vòng quanh những ngôi nhà bị đóng cửa trong khu vực. Ông ấy có vẻ rất trí thức, và có đạo đức một cách ngạc nhiên. Quan điểm của tôi về những người trung gian nhà đất từ trước đến nay không tốt - tôi nghĩ rằng họ làm tất cả những gì có thể để kiếm tiền, vì thế tôi không biết nên tin người đàn ông này tới đâu. Dù sao đi nữa ông ấy cũng không phải là nhân vật chính của câu chuyện này. Ông ta đưa chúng tôi lên xe buýt, lái một vòng quanh từ nhà này đến nhà kia để giới thiệu với chúng tôi những căn nhà bị ngân hàng thu hồi.
Marc Joseph
Marc Joseph dẫn chúng tôi đến căn nhà thứ 5. Ngôi nhà này nhìn đẹp đẽ và sang trọng hơn 4 ngôi nhà trước, khiến tôi nghĩ rằng chủ nhân ngôi nhà này có vẻ đã từng giàu có. Dù sao đi nữa thì bây giờ, 3 năm sau khi bong bóng bất động sản vỡ, cả người giàu lẫn nghèo đều mất nhà cửa. Câu chuyện mất nhà không phân biệt giàu nghèo: Những năm 2006, 2007 với tín dụng rẻ tiền, người Mỹ có thể mua nhà với giá cực rẻ và không cần phải đặt cọc nhiều. Vì thế, người Mỹ đã mộng tưởng rằng đây là thời điểm để hoàn thành Giấc mơ Mỹ (rằng mỗi gia đình có một ngôi nhà để ở). Một vài người khác mua nhà để bán lại và kiếm lời. Vài năm sau, bong bóng nhà vỡ ra, người mất cả tiền lẫn nhà.

Cả nhóm đi vòng quanh ngôi nhà để ngắm vào những gì còn lại, nhìn vào cái không gian mà đã từng là nơi sinh sống của một gia đình. Căn nhà có 3 phòng ngủ và 2 phòng tắm, một kích cỡ vừa đủ cho một gia đình Mỹ. Giống như những căn nhà trước, ngôi nhà đã được sửa chữa bởi ngân hàng để được bán lại với giá cao hơn nên chúng tôi khó hình dung được gia đình nào đã từng sống ở đây. Tuy nhiên, khi tôi bước vào một căn phòng ở góc phải ngôi nhà, một vật lớn màu đen treo trên tường khiến tôi phải chú ý.

Đó là một cái bảng. Bảng đen, với hình vẽ và những dòng chữ  viết bởi gia đình chủ nhân ngôi nhà. Không hiểu sao dù ngôi nhà đã được sửa chữa hoàn toàn, tấm bảng này vẫn được để lại, và cũng không ai lau chùi những dòng chữ trên bảng. Tôi nhìn vào những hình vẽ trên bảng, đọc một vài dòng chữ, vừa nở nụ cười vừa nghĩ rằng gia đình này dễ thương làm sao. Tấm bảng đầy những dòng chữ động viên nhau, gọi tên nhau, đầy lời yêu thương trong gia đình. Tuy nhiên, nụ cười của tôi tắt ngay khi đôi mắt tôi hướng về những gì được viết rất nhỏ nhắn ở góc dưới tay phải:


"Yêu con nhiều lắm. Kí tên: Mẹ"
"Những dòng chữ cuối cùng viết trên tấm bảng
10/2001 - 11/2011"
"Cuộc sống ở đây là một quãng đời đẹp"

Từ giây phút ấy, tôi cảm thấy ngột ngạt trong lòng, tò mò muốn biết chuyện gì đã xảy ra với gia đình này sau khi họ rời khỏi ngôi nhà này vào tháng 11 năm 2011. Có rất nhiều người xứng đáng hứng chịu hậu quả của cuộc khủng hoảng nhà năm 2007-2008 vì họ cố gắng lợi dụng bong bóng kinh tế để kiếm tiền, nhưng gia đình này nhất định không phải là một trong số ấy. Tôi có cảm giác rằng họ lchỉ muốn sở hữu một gia đình - không chỉ "sở hữu một ngôi nhà". Tôi chưa gặp gia đình này bao giờ, và sẽ không bao giờ gặp. Tôi chỉ trân trọng họ vì tình cảm họ dành cho nhau.

"Con có thể trở thành bất cứ điều gì con muốn"


Hôm nay là một dịp đặc biệt, nên bài post này mình xin mạn phép kể 3 câu chuyện sau:

(I) Tuần trước The Voice UK mùa thứ 2 có một thí sinh đặc biệt tên Katie Evans. Cô này từng là một người nghiện rượu và cuộc đời cô chỉ được cứu vãn khi cô sinh ra đứa con trai đầu lòng. Đứa bé là một động lực rất lớn để giúp cô từ bỏ rượu chè, và cô quyết định đi thi The Voice chỉ để gửi cho đứa con trai 3 tuổi một thông điệp: "Con có thể trở thành bất cứ điều gì con muốn." (You can do whatever you want to do)

(II) Khi nghe câu nói ấy, mình đột nhiên giật mình. Nghĩ lại mới nhớ ra có một người từng nói câu nói ấy, giống đến từng-chữ-một. J.D. (xin phép được giữ kín tên vì lý do cá nhân) là một người Mỹ gốc Guatemala. Cô nhập cư bất hợp pháp cùng với mẹ khoảng 15 năm trước, và sau này lấy một người chồng cũng là dân Latin nhập cư phi pháp. Mình không rõ bây giờ họ đã được công nhận là công dân Mỹ chưa, nhưng họ đã có một đứa con năm nay 10 tuổi. Họ ly hôn cách đây 2 năm và thằng bé trở nên im lặng một cách đáng sợ. Rất may nhờ có tổ chức Big Brothers Big Sisters của Mỹ mà giờ mình đã có cơ hội trở thành anh nuôi của thằng bé, mục đích chính là giúp nó nhìn vào cuộc sống một cách tươi đẹp hơn. Mọi chuyện giờ đã trở nên tốt đẹp: người chồng rất thường xuyên ghé thăm đứa bé, và đứa bé cũng trở nên vui vẻ hơn. Điều đáng nói là mỗi lần mình dẫn đứa bé đi chơi, người mẹ đều hỏi thăm chuyện học tập của mình trước mặt đứa bé - làm cách nào mình vào được Princeton từ VN - cũng chỉ để truyền tải một thông điệp đến nó: "Con có thể trở thành bất cứ điều gì con muốn."

(III) Tôi còn biết chuyện của một người mẹ khác. Người mẹ thứ 3 này tốt hơn Katie Evans - cô chưa bao giờ nghiện rượu. Xuất thân là một cô gái nhà quê, người mẹ này cũng làm một điều tương tự như J.D. khi cô di cư từ Guatemala đến Mỹ: cô cũng rời vùng quê và chuyển lên thành phố mong rằng con mình sẽ có một cuộc sống tốt hơn. Đối với con trai cô, đây là quyết định dũng cảm nhất trong cuộc đời mẹ, vì đi đến một thành phố lớn kiếm việc làm khi mới còn 18 tuổi, 1 con và chưa học xong phổ thông là một quyết định hết sức khó khăn. Mới đầu cô trang trải bằng công việc rửa chén bát ở một khách sạn, phụ giúp cho người chồng làm thợ điện. Sau cô được tuyển vào làm nhân viên chính thức của khách sạn, cuộc đời ổn định hơn và cô bắt đầu đi học bổ túc buổi tối để trở thành người học đủ và có bằng cấp. Chồng cô cùng thời gian ấy học đại học ở một thành phố khác, nên mỗi tối khi đi học, cô phải đem con trai mình đến lớp, ngồi bàn đầu như một học sinh chính thức. Mẹ 23 tuổi và đứa con trai 5 tuổi, ngồi trong một lớp học ban đêm trình độ lớp 10 phổ thông và đọc Truyện Kiều. Hai mẹ con rất hay đọc thơ cùng nhau, và đứa con vì thế biết một ít bài thơ nữa ngoài những bài nó học trên lớp Mẫu giáo. Mỗi khi bố xa nhà, hai mẹ con lại quắn quít như thế, rồi vì tuổi tác không xa cách mấy, hai mẹ con cùng lớn lên vừa như mẹ và con, vừa như hai người bạn.

Người mẹ thứ 3 này chính là mẹ của mình. 

Mẹ à, hôm nay sinh nhật mẹ lại khiến con nhớ lại rất nhiều điều mẹ làm cho con, rất nhiều yêu thương mẹ dành cho con từ khi con còn nhỏ đến bây giờ. Lúc đó con còn nhỏ nên ký ức có phần đã nhạt nhòa, nhưng có rất nhiều điều đặc biệt đến mức con không bao giờ quên được. Mẹ chưa bao giờ trực tiếp nói với con "Con có thể trở thành bất cứ điều gì con muốn", nhưng con hiểu được chính xác điều đó qua sự động viên của mẹ khi con tham gia các cuộc thi Tin học từ nhỏ đến lớn, khi con phỏng vấn học bổng, khi con quyết định đi học xa. Cứ mỗi khi con có một dự định mới cho tương lai, phải đi xa, mẹ lại lo lắng, không muốn cho con đi nhưng rồi lại ủng hộ hết mình. Mẹ lúc nào cũng là người thấu hiểu con muốn cái gì. Có một câu rằng: "Bố nói những gì con chưa biết. Mẹ biết những gì con chưa nói". Cảm ơn mẹ.

CHÚC MẸ SINH NHẬT VUI VẺ.
Hồi còn nhỏ


El Papá


Lúc còn nhỏ, mình ít khi hỏi bài ba. Khi mình chia sẻ điều này với một số người, họ hay bảo "thằng này tự lập từ bé," mình chỉ cười đùa. Sự thật đơn giản hơn nhiều: bất cứ khi nào hỏi bài ba, mình đều không hiểu. Ba mình rất giỏi hù dọa mình - một đứa học sinh tiểu học/cấp 2 - bằng những kiến thức ba học được từ ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Tp HCM. Chắc cũng giống như cách mình hay nói đùa với các bạn trường Năng Khiếu rằng: "Giáo viên bằng càng cao, thì càng dạy không hay," câu nói này trong trường hợp ba mình cũng có phần đúng. Trong ký ức của mình vẫn còn đọng lại một số đồ thị hàm sin, hàm cos hình sóng mà ba vẽ ra khi mình đơn giản chỉ hỏi một bài vậy lý lớp 6. Sau khi thử hỏi ba chuyện bài tập về nhà một vài lần, mình rút ra được kinh nghiệm rằng chắc tự học sẽ dễ hiểu và tiết kiệm thời gian hơn.

Có một năm mình đoạt giải cuộc thi tin học gì đó. Lên báo. Lúc đó, phóng viên hỏi "Bố mẹ dạy cho em những kiến thức này à?" Lúc đó mình cũng khó nghĩ, không biết nói làm sao cho phóng viên hiểu rằng điều quan trọng nhất mà ba mẹ cho mình không phải là kiến thức, mà là cái gì đó lớn hơn nhiều. Rất nhiều. Ngồi kèm cặp bên bàn học, dạy dỗ kiến thức có lẽ chỉ có ý nghĩa trên bề nổi; nhưng quan trọng hơn nữa là ba luôn cho mình động lực và định hướng cho cuộc sống. Mình nhớ lúc còn nhỏ, mình hay hỏi ba chuyện mình thích đi học ở Sài Gòn, hoặc ở nước ngoài. Mỗi lần, ba đều nói "Con muốn đi học xa thì phải tự kiếm cơ hội mà đi". Dạo này, nhiều đêm ngồi học, mình vẫn còn không tin được làm sao một câu nói đó thôi đã đưa mình đi xa đến như vậy, từ phố thị Phan Rang, đến học sinh chuyên Tin của trường Năng Khiếu, rồi UWC (Trường Liên kết Thế giới), và nay là Princeton.

Suốt chặng đường ấy, không những ba tạo động lực cho mình nắm bắt cơ hội, mà còn luôn hỗ trợ về mặt tinh thần một cách tốt nhất. Ba mình đã không thể tham dự tất cả những buổi trao giải thưởng hay lễ tốt nghiệp của mình kể từ khi mình đi học xa, nhưng những gì ba đã "tham dự" có ý nghĩa hơn nhiều. Ba không có mặt khi mình nhận giải HSG quốc gia, hay Olympics 30/4, hay học bổng; nhưng ba là người đã cấp tốc ủng hộ, mua vé xe khách và lái xe máy vòng vòng Sài Gòn để đưa mình đi thi Năng Khiếu - xuất phát điểm của mọi thành công. Ba không có mặt khi mình tốt nghiệp UWC, nhưng ba là người đã bay với mình ra Hà Nội khi mình đi thi học bổng. Lúc đậu MIT, Princeton với mấy trường khác cũng chỉ có thể đánh thứ ba dậy lúc 3h sáng bằng một cuộc điện thoại từ Mỹ; nhưng trước đó mấy tháng, khi mình đang đau đầu viết đơn cho Princeton và các trường, ba là người trấn an mình rằng "Học ở trường nào cũng được, con đã cố hết sức rồi thì thôi. Nếu mình thực sự giỏi thì học ở đâu cũng giỏi".

Nói dông nói dài, cũng chỉ có một quy luật sinh học đơn giản, ai cũng hiểu (bây giờ học sinh lớp 5 cũng đã học về cái này rồi):

KHÔNG CÓ BA, THÌ KHÔNG CÓ CON.

Chúc mừng sinh nhật ba. 43 tuổi vẫn còn trẻ để theo đuổi những dự định và đam mê của ba. Nếu mình có tài và luôn cố gắng thì cánh cửa cơ hội không bao giờ đóng. Quan trọng hơn hết là ba có một gia đình hạnh phúc mà ít ai có được. Chúc ba luôn hạnh phúc, mạnh khỏe và thành công.



Mục đích


1. Mục đích của tôi trong thế giới này là gì?

Câu này mình có hỏi trên facebook vài tuần trước, thực ra là hỏi bản thân. Dạo gần đây thì hầu như chỉ học nhiều, làm thêm nhiều; rảnh được chút nào thì tranh thủ đọc sách kinh tế, tham gia câu lạc bộ kinh tế tiền tệ. Trong đầu thì lúc nào cũng nghĩ về đại số tuyến tính, đi ngoài đường cũng ráng giải bài tập môn tối ưu hóa. Thực ra không biết từ khi nào mình lại trở nên nghiêm túc về tương lai như vậy, cứ giữ trong đầu tư tưởng rằng một phút không làm việc là một phút lãng phí, ảnh hưởng đến tương lai sau này. Thế rồi nhiều khi đi nhanh quá, vội quá lại quên tự ngẫm về mục đích thực của mình trong thế giới này là gì.

Thằng bạn ở phòng kế bên từng bảo rằng một trong những mục tiêu hàng đầu của nó là tìm ra lý do tại sao Chúa lại tạo ra nó, mình và những người khác. Ngồi nói chuyện với nó mình cứ cười, cố gắng không đi sâu vào cuộc tranh luận cũ mèm về việc liệu thần thánh có tồn tại hay không. Mình không quan tâm. Tuy nhiên, dù không có một lí do cụ thể, mình vẫn tin rằng mỗi người tồn tại trong thế giới này vì một mục đích. Như trong phim Hugo mà mình thích có nói: Thế giới này như là một cỗ máy khổng lồ mà trong đó mỗi người là một bánh răng với một chức năng cụ thể; không có bộ phận nào là thừa.

Hồi cấp 1 và cấp 2 thì cứ nghĩ rằng mục đích của mình là học thật giỏi và trở thành kĩ sư phần mềm ở Thung lũng Silicon. Đối với những ai chưa biết, cái "mục đích" này là lý do tại sao mình cố gắng học và thi vào chuyên Tin Phổ Thông Năng Khiếu. Cái mục đích này thực ra được nuôi dưỡng rất lâu - khoảng 6 năm. Suốt 6 năm mình chỉ biết rằng muốn trở thành kĩ sư phần mềm thì phải giỏi, và muốn giỏi thì phải học. Chưa một lần mình cố gắng hỏi bản thân một câu hỏi thực ra lại mang tính quan trọng nhất: Tại sao mình lại muốn trở thành một kĩ sư phần mềm?

Mãi đến sau này, sau khi thi Quốc gia môn Tin học xong, sang Mĩ rồi mới có thời gian suy nghĩ lại. Suy cho cùng thì dù môn Tin học là môn mình tập trung vào nhiều nhất, và "có vẻ" là thích nhất, cái lí do để mình học Tin học thực ra khá ấu trĩ. Thực ra thì, toàn bộ những kế hoạch và phấn đấu trong bộ môn này xuất phát từ một buổi nói chuyện của ba mẹ khi mình học lớp 4: Ba bảo nếu mình giỏi thì có thể trở thành kĩ sư phần mềm ở thung lũng Silicon. Từ đó, một cách vô điều kiện, mình học Tin chỉ để trở thành một điều gì đó mà sẽ khiến ba mẹ vui lòng.

Đến khi sang Mĩ mới cố gắng suy nghĩ lại, và chuyển định hướng sang làm những gì mà sẽ khiến MÌNH vui lòng (và tất nhiên, không phiền lòng ba mẹ). Sau một thời gian mới phát hiện ra mục đích mới của mình trong thế giới: trở thành một nhà Kinh tế học. Cái danh hiệu này đối với mình 3 năm về trước không đáng một xu. Nhưng càng học Kinh tế, càng tìm hiểu thực tế mới càng biết rõ tuy mình không thể đột phá vào tương lai như những nhà khoa học tài ba, trở thành một nhà kinh tế vĩ mô có thể dễ dàng thay đổi một cách trực tiếp nhất cuộc sống của nhiều người trong xã hội. Nhiều khi mình nghĩ: Đối với những bạn nhà khá giả, việc có một máy tính đời mới nhất là cần thiết; nhưng đối với nhiều bạn nhà nghèo, việc đủ ăn mới là cần thiết. Và ngẫm lại với gốc gác và nơi mình xuất thân thì việc gia đình không có đủ ăn không phải là chuyện lạ.

Vậy nên, không biết tự khi nào, mình mới xác định mục đích của mình trong cuộc sống này là "thay đổi cuộc sống của nhiều người khác", thông qua cách thức "trở thành một nhà kinh tế học". Đó là một mục đích có ý nghĩa, và kinh tế thực sự là những gì mình thích học. Tất nhiên, việc theo đuổi một tư tưởng như thế đi kèm với nhiều cái giá: phải đi học xa nhà, không giữ được liên lạc với bạn bè trong nước, không có được thời gian chơi và xem phim nhiều như một bạn bình thường cùng lứa, không tập guitar được như mình muốn...

Thế mà, dạo gần đây, mình lại nghĩ: "Tại sao phải là mình? Nếu mình không làm chuyện này, liệu có ai làm không?" Suy cho cùng, câu hỏi là: "Liệu mục đích thực sự của mình là gì, và mình sống cho ai?"

2. Nếu bạn nào tinh ý thì sẽ phát hiện, đây là bài viết đầu tiên bằng tiếng Việt kể từ khi chuyển sang blog mới hồi hè này. Có lẽ lý do đầu tiên và duy nhất về tại sao mình blog bằng tiếng Việt là vì mình muốn kết nối trở lại với các bạn bè Việt của mình, những bạn mà chắc chắn sẽ ko đủ thời gian/kiên nhẫn đọc bài tiếng Anh của mình. Hi vọng sau bài này, mọi người có thể hiểu hơn một chút về mình và định hướng của mình.