Sunday, March 16, 2014

Giá trị thực, giá trị danh nghĩa, giá trị có điều kiện

Tựa đề của bài viết này lạm dụng một số thuật ngữ của bộ môn Kinh tế - như GDP thực và GDP danh nghĩa – nhưng thực ra những gì mình viết dưới đây không liên quan gì đến những giá trị kinh tế. Sau một tuần dài thi cử vất vả, suốt ngày làm bạn với sách vở, thì cuối cùng mình cũng đã có thời gian để ngồi xuống, uống ly café từ từ, và suy nghĩ về những câu hỏi mình đã trăn trở vài tuần nay. Bài viết này là cố gắng đầu tiên của mình để trả lời câu hỏi: “những thành tích nào có giá trị thật, và thành tích nào không?”

Trước tiên mình xin giải thích hoàn cảnh của câu hỏi này. Sự thật là mấy tuần này, mỗi khi bận rộn, mình lại cố gắng nghĩ xem thử mình có những giá trị nào, hoặc giả như có một thị trường để mua bán giá trị con người, mình sẽ đáng giá bao nhiêu. Vì thế mình thử tưởng tượng một thế giới không có mình, và thế giới ấy có vẻ không khác mấy với thế giới bây giờ, ở nhiều mức độ. Ví dụ như, khoa Kinh tế của trường mình chắc cũng sẽ là cái khoa nằm ở tòa nhà Fisher của trường, dù có hay không có một thằng sinh viên học kinh tế vĩ mô và biết một hay hai điều về kinh tế. Sau đó mình lại nghĩ về rất nhiều người bạn. Nhiều bạn ở Việt Nam đã và đang tích cực tham gia tổ chức nhiều dự án, giúp ích nhiều cộng đồng nghèo. Sau đó có nhiều bạn bè UWC đi khắp các nơi trên thế giới và cố gắng để đấu tranh cho các vấn đề xã hội mà các bạn mong muốn thay đổi. Rồi tiếp đến có các bạn sinh viên Princeton đã lập nên những khởi nghiệp của riêng mình.

Rồi tiếp đến có mình, người mà, với cây bút và tờ giấy, ráng giải một phương trình vi phân hay học về lý thuyết tối ưu động của lý thuyết kinh tế vĩ mô. Mình bắt đầu cảm thấy mất kiên nhẫn, và chắc mình sẽ mất kiên nhẫn nhiều lần nữa trong 6 năm tới ở trường sau đại học. Vì thế, mình cố gắng làm một điều có ích cho bản thân: phân loại những điều mình đã đạt được để xem mình có làm được điều gì có giá trị thực hay chưa.

Điều đầu tiên mình phân vân là chuyện mình được vào học ở Princeton, và sau nhiều suy nghĩ mình kết luận rằng thành tích này chỉ có ‘giá trị có điều kiện’. Mình sẽ định nghĩa khái niệm này sau khi giải thích rõ hơn về nó. Khi còn học trung học cơ sở, mình cố gắng thật nhiều để vào trường phổ thông tốt. Sau đó mình cố gắng để vào trường đại học tốt. Bây giờ thì mình đang cố gắng vào trường cao học tốt, sau đó thì chắc sẽ cố kiếm việc làm tốt, vân vân và vân vân. Những mục tiêu này là một dòng chảy không ngừng nghỉ những ước mong của con người, và hiện hữu ở mọi người. Mỗi chúng ta ai ai cũng đã từng đi theo dòng chảy này trước khi dừng lại ở một điểm nào đó. Điều quan trọng là, chúng ta nên dừng ở đâu? Nếu nói suông, không ai có thể kết luận rằng dừng lại ở đại học thì tốt hơn trường phổ thông, hay ở cao học thì tốt hơn đại học, vì cuộc đời đã chứng tỏ rằng có nhiều thành công và thất bại ở mỗi trường hợp. Có những người chỉ học hết phổ thông, nhưng rất thành công trong kinh doanh, và có người học hết tiến sĩ, nhưng không thành công mấy trong mọi thứ (đặc biệt là vô số tiến sĩ Việt Nam), kể cả ở vai trò chính của một người tiến sĩ: viết một bài nghiên cứu có ích. Nếu như thế, yếu tố nào quyết định giá trị của việc được chọn vào một ngôi trường tốt, như ĐH Princeton, chẳng hạn? Để trả lời câu hỏi này, giả sử rằng sau khi tốt nghiệp đại học, mình đi về nhà và quyết định làm một nghệ sĩ viết nhạc (đang lấy thí dụ thôi), thì việc mình vào ĐH Princeton hay một đại học nào của Việt Nam không có sự khác biệt. Vậy rõ ràng việc mình vào ĐH Princeton không có một giá trị thực nào, mà chỉ có giá trị có điều kiện, vì giá trị của việc vào được ĐH Princeton phụ thuộc vào giá trị của những việc mình làm được sau khi học ở Princeton. Như vậy, những giá trị có điều kiện là những giá trị mà ý nghĩa của nó phụ thuộc mạnh mẽ vào những giác trị khác. Giá trị có điều kiện thường nguy hiểm, vì nó dễ khiến người ta lầm tưởng bản thân nó là giá trị thật. Chính vì điều này mình không thích khi nhiều bạn gọi nhau bằng công thức “tên + tên trường,” ví như một số bạn Việt Nam gọi mình là “Vũ Princeton” cứ như rằng cái trường là giá trị của mình. Nó không phải.

21 tuổi đời là một giai đoạn của cuộc đời khi mà hầu hết những giá trị mỗi chúng ta mang trên mình là có điều kiện, và bản thân chúng ta là những người quyết định rằng những giá trị đó sẽ trở nên giá trị thực hay giá trị danh nghĩa. Mình định nghĩa giá trị thực của một người là những điều mà tạo nên một ảnh hưởng nhất định đối người đó, gia đình và bạn bè, hay cộng đồng của người đó, còn giá trị danh nghĩa của một người là những điều nghe tên có vẻ tốt, nhưng nếu giá trị ấy không tồn tại thì cuộc sống của người ấy, gia đình, mọi người liên quan và cộng đồng xung quanh sẽ không có gì thay đổi. Chẳng hạn như, điểm số mà mình cố gắng thật nhiều và dành rất nhiều thời gian để đạt được sẽ không có ý nghĩa gì nếu mình không vào được trường sau đại học tốt (điều này lại là một giá trị có điều kiện khác). Một ví dụ khác, kiến thức mình đã học về tối ưu hóa động, chuỗi Markov hay những lý thuyết kinh tế vĩ mô khác sẽ có giá trị thực hay danh nghĩa tùy thuộc vào mình: nếu mình viết được một bài nghiên cứu mà đóng góp được một sự hiểu biết mới mẻ, thì những kiến thức trên sẽ có giá trị thực; ngược lại giá trị của chúng chỉ tồn tại trên danh nghĩa, vì nếu không có các kiến thức trên, thì cuộc sống của mình, mọi người và hòa bình thế giới sẽ không có gì thay đổi.

Thông thường, bất cứ ai muốn hướng tới một ‘cuộc sống vui vẻ,’ cuộc sống có phẩm giá (theo Aristotle – cuộc sống tốt nhất là cuộc sống vui vẻ, là cuộc sống của phẩm giá) đều muốn hướng tới những giá trị thực thay vì danh nghĩa. Vấn đề ở đây là (1) đôi khi chúng ta quên mất mình đang cố gắng làm gì (bị mất phương hướng), hoặc (2) lầm tưởng rằng những giá trị có điều kiện và giá trị danh nghĩa là giá trị thực. Vấn đề thứ nhất (vấn đề mình đang có) là thông thường với mỗi người trong một thời gian ngắn, nhưng vấn đề thứ hai là nguy hiểm, vì khi đó chúng ta sẽ dừng lại, không hướng tới điều gì thực. Vậy nên, điều quan trọng nhất đối với mỗi người ở mọi thời điểm là biết được những giá trị mình có, giá trị nào là thực, là danh nghĩa, là có điều kiện.


Chỉ một chút suy nghĩ khi có ít thời gian rỗi.

Friday, January 24, 2014

Không thể và có thể

Lưu ý: bài viết này dành riêng cho các em học sinh tỉnh nhỏ, và đặc biệt là Ninh Thuận, đang suy nghĩ về nộp đơn xin học bổng UWC. Nếu các em có nghi ngờ về bản thân, xin hãy đọc một ít suy nghĩ của mình. 
-------------------------------------

Mình xin bắt đầu bài viết này với một câu nói của một nhân vật nổi tiếng:


"Bạn không thể nối liền các dấu chấm khi nhìn lên phía trước; bạn chỉ có thể nối chúng thành đường khi nhìn lại đằng sau. Do đó, bạn phải đặt niềm tin rằng những dấu chấm đó sẽ, bằng cách nào đó, nối liền bạn đến tương lai của bạn. Bạn phải tin vào một điều gì đó: linh tính, số phận, cuộc sống, luật nhân quả, bất cứ điều gì. Bởi vì, chỉ có niềm tin rằng những dấu chấm sẽ kết nối với nhau khi bạn đi về trước mới cho bạn đủ can đảm để nghe theo trái tim bạn, ngay cả khi nó dẫn bạn ra khỏi con đường quen thuộc." - Steve Jobs.


Năm lớp 11, khi chuẩn bị nộp đơn xin học bổng UWC, mình cũng không biết "dấu chấm" này sẽ nối mình đến đâu. Lúc đó công khó 2 năm rèn luyện để thi HSG QG bảo với mình rằng nếu ở lại Việt Nam, mình có thể tiếp tục cố gắng để đi xa hơn là giải Nhì Quốc gia (năm ấy mình không đủ điểm để dự thi vòng chọn đổi tuyển quốc tế). Phương án còn lại, mình có thể thử sức với học bổng này, nếu được thì sẽ đi đến một nước nào đó trong 2 năm. Tuy nhiên, lúc đó mình không biết liệu mình có thực sự thích môi trường UWC hay không, và, sau UWC thì mình sẽ làm gì. Nếu may mắn, mình sẽ vào được một đại học nào đó của Mỹ. Nếu không được nhận vào một trường nào của Mỹ với học bổng toàn phần (vì điều kiện gia đình không cho phép du học với học bổng bán phần), mình sẽ phải về Việt Nam và học lại từ đầu phổ thông (vì mình sẽ phải rút hồ sơ khỏi trường). Đối với mình lúc đó, khả năng xảy ra của nguy cơ này là rất lớn. 


Đúng là, năm lớp 11, nhìn lên phía trước, mình không thấy các quyết định trong cuộc đời mình sẽ dẫn mình đến đâu. Thế nhưng, từ vị trí của mình bây giờ nhìn trở lại, mình không nghĩ rằng mình đã có thể đi một con đường nào khác tốt hơn.


Hôm trước, mình có nói chuyện với một cô bạn người Thụy Điển, bạn học ở UWC với mình, và bây giờ cũng đang học ở Princeton, khoa Kỹ sư Tài Chính (full: Operation Research and Financial Engineering). Sau một cuộc nói chuyện dài, cả hai đều đồng ý rằng có rất nhiều sự tiến bộ trong cuộc sống hàng ngày mà khi so sánh giữa hôm nay và hôm qua chúng ta sẽ không nhận ra. Chỉ đến một vài năm sau, khi đã đi đủ xa và leo đủ cao, lúc nhìn lại chúng ta mới thấy mình đã đi xa đến đâu và leo cao chừng nào. Cô bạn này, khi mới sang UWC, không biết một hàm số f có nghĩa là gì (vì chương trình toán phổ thông của các nước Scandinavia không nặng như ở VN). Khi đó mình có dạy thêm cho bạn ấy ngoài giờ học, đôi lúc cũng thấy nản vì ngay cả những phương trình và bất phương trình siêu cơ bản cũng có vẻ khó đối với bạn ấy. Thế mà, hai năm sau, bạn ấy thi Tú tài Quốc tế đã đạt điểm cao nhất của thế giới (tuyệt đối - 45/45), cao hơn cả mình. (Ba mình hay nói đùa, rằng mình toàn dạy cho bạn thi cao điểm hơn mình haha) Bạn ấy cũng được chọn vào ĐH Princeton với học bổng toàn phần với mình, và bây giờ đang học ở một trong những khoa nặng toán học nhất. Rõ ràng, chỉ khi nhìn lại, cả hai đứa mới nhận ra rằng mình đã làm được điều mà cách đây một vài năm mình tưởng rằng không thể.


Nói đến đây không phải để khoe với mọi người rằng chúng mình đã làm những điều tưởng như không thể. Vẫn có rất nhiều điều không thể khác mà mình không biết bao giờ mới thực hiện được. Tuy nhiên, sau khi đã đi một chặng đường dài, thử sức bản thân với các điều lạ, mình nhận ra rằng đúng là mỗi cá nhân đều có một giới hạn cho khả năng của mình. Tuy nhiên, chúng ta không biết giới hạn của mình ở đâu, và sẽ có nhiều thời điểm chúng ta rất muốn nghĩ rằng mình đã đạt tới giới hạn của mình. Sai! Chính những suy nghĩ như thế đã khiến chúng ta đầu hàng ngay trước khi cố gắng.


Lần này đối với học bổng UWC cũng thế. Đừng nhìn vào nó như một nguy cơ, một gánh nặng, một nỗi lo gì cả. Đơn giản cứ nghĩ về UWC như một cơ hội - một cơ hội mà nếu nắm được các bạn sẽ không có gì để hối tiếc :)


Bonus cho các em một tấm ảnh của lâu đài Montezuma - một phần của trường mình (UWC-USA)

Tuesday, January 21, 2014

Không gian và Tâm trí

Mấy hôm nay thi cử, phòng ngổn ngang nên cứ phải tất bật chạy chỗ này, chạy chỗ kia để học. Dạo này mình thích ngồi ở Starbucks vào buổi đêm, chọn một chiếc bàn vuông dưới ánh đèn, rồi cứ thế ngồi học đến nửa đêm, trong tiếng nhạc đồng quê và tiếng người ra vào mua cà phê. Nhiều đứa hỏi, "làm sao mày có thể học được ở chỗ ồn ào như vậy được?", và mình không biết trả lời sao ngoài việc biện minh rằng "Tao quen với tiếng ồn rồi". Thực ra cái Starbucks ở Princeton có một không gian khá tối và cũ kĩ, nhưng cái không gian đó có một sự lãng mạn: mình có thể ngồi từ trong, chầm chậm làm công việc của mình để rồi thỉnh thoảng có thể nhìn ra ngoài ngắm những người bước vội trong đêm lạnh. Có lẽ chính sự bôn ba của người ở ngoài khiến mình quý hơn những khoảnh khắc bình tĩnh của mình ở bên trong.

Tối hôm qua lại khác. Chắc có lẽ bài thi từ chiều kết quả không được như mong muốn, hay vì một số chuyện không vui khác bỗng dưng xảy ra trong cùng một ngày, nhưng tối qua ở Starbucks không còn điềm tĩnh và tập trung như mọi khi. Thế là mình bước vội về phòng chỉ dể thấy một bãi chiến trường khác ngổn ngang hơn tâm trí của mình. Cái nệm ở dưới đất (mình thích ngủ dưới đất), đống đồ sạch chưa xếp ở trên giường, đống đồ dơ này ngay bên dưới, và một mớ dây nhợ nằm lộn xộn trước cái lò sưởi mà trường không cho phép mình dùng. Vì phải chuẩn bị thi cử nên mình đã viện đủ lý do để không dọn dẹp cái phòng của mình, thế nhưng tối qua mình tự hỏi: Phòng mình lộn xộn vì đầu mình lộn xộn, hay thực ra nó là điều ngược lại?

Nhớ lần trước, cái tuần mà mình nghỉ Thu một tuần để ở nhà chuẩn bị cho bài luận văn năm 3 (Junior Independent Paper) của mình. 4 ngày đầu, cái phòng của mình cũng y chang, bừa bộn không thể tả. Và trong 4 ngày đầu đó, mình không nghiên cứu được gì cả - ý tưởng cứ lộn xộn, suy nghĩ và đọc mãi mà không có gì ra hồn. Càng ngày càng bực bội, đến ngày thứ 5, sau khi dậy sớm buổi sáng và đi dạo vòng quanh trường, mình mới quay về phòng với cái đầu tĩnh lặng hơn, và mình từ từ dọn phòng.

Tối hôm qua cũng thế, mình dành 1 giờ đồng hồ để dọn phòng, và đó là 1 giờ thoải mái nhất của mình trong cả ngày. Mình không phải là đứa thích dọn phòng, nhưng những lúc như thế này lại khiến mình có cảm giác rằng mình không chỉ dọn phòng, mà còn đang sắp xếp lại chính cuộc đời của mình. Tối qua mình ngủ ngon hơn, sáng nay tỉnh táo hơn, học hành tốt hơn. Và bây giờ giữa trưa, khi tuyết đang rơi trắng xóa ngoài khung cửa, ngồi trong phòng vừa học vừa nghe những bài nhạc instrumental khiến mình nhẹ lòng.

Đủ nhẹ để viết một cái blog post, điều mà mình đã không (dám) làm cả một học kì bận bịu này. Vẫn còn 2 môn thi nữa, và mình không biết mình sẽ lo lắng như thế nào trong phòng thi. Nhưng ngay bây giờ, điều duy nhất mình cảm nhận được là âm nhạc và sự thoải mái.

-------------------------
Và bài nhạc sau là mình lúc này đây:
 http://www.youtube.com/watch?v=Sn2vzbCN-fw&list=PL882FF1DD806C86AA

Thursday, September 26, 2013

Hai câu chuyện nhỏ

Một năm nữa lại trôi qua, nhanh đến không ngờ. Mới ngày nào còn ngồi lụi cụi gõ blog bài El Papá để chúc mừng sinh nhật ba mình, giờ loay hoay đã lại đến sinh nhật ba.  Cả ngày hôm nay vắt óc ra nghĩ sinh nhật ba mình ở xa thì làm được gì ngoài viết vài dòng chúc mừng để cho xứng đáng, nhưng cái đầu cạn nghĩ lại không nghĩ ra được điều gì ngoài việc kể ra đây 2 câu chuyện ngắn mới diễn ra trong hè này mà chứng tỏ ba mình là tuyệt vời nhất:

1) Khi ba phải thi lên chuyên viên chính, trong đó có một môn điều kiện là môn tiếng Anh, ba đã về hỏi mình ngay để mình ôn tập lại tiếng Anh cho ba. Chắc ít ai tuổi ngoài 40 lại kê bảng học 12 thì hiện tại, quá khứ, và tương lai, cũng như thức dậy 3h sáng mỗi đêm để ráng học thuộc bảng động từ bất quy tắc như ba của mình. Mình đã phục ba nhiều điều: tài văn thơ, cầm ca, kỹ năng giao tiếp, tính cương quyết, lòng quan tâm đến mọi người, và nhiều thứ khác. Nhưng chỉ thông qua đợt dạy tiếng Anh cho ba này mình mới học ngược lại từ ba đức tính kiên trì.

2) Khi mình bị tai nạn giao thông, lúc mình bảo mình có thể ở qua đêm trên núi rừng Bác Ái thì ba cương quyết đưa mình về Bệnh viện Tỉnh khám ngay lập tức. Ngay cả khi bác sĩ bảo mình "không bị sao", nếu không vì ba cực kỳ quyết đoán và quyết định đưa mình vào Tp. HCM ngay trong một buổi sáng, chắc giờ mình cũng đã không biết thực tế tình hình của mình nghiêm trọng thế nào. Qua dịp này mới thấy, mình chỉ được giỏi quyết đoán chuyện thiên hạ, và trong những tình huống khẩn cấp liên quan đến bản thân và người thân thì ba mình mới đúng là lý trí sáng suốt và là trụ cột cho cả nhà.



Chuyện về ba kể không hết, và hai câu chuyện nhỏ này chỉ là một trong vô số những điều diễn ra trong đời mà mỗi điều vẽ thêm nhiều phương diện và khía cạnh đẹp của con người ba trong mắt mình.

(Princeton, 09-2013)

Thursday, September 19, 2013

Kinh tế: Chuyện như mới bắt đầu

Ngẫm lại thì hai tuần vừa rồi khá bận cho những tuần đầu năm học. Nhiều em học sinh năm nhất cứ ngây thơ hỏi, "Làm sao để chúng em có thể quản lý quỹ thời gian của mình một cách tốt nhất?" mà không hề biết rằng trong khi mình cố sức đưa cho các em những lời khuyên thì bản thân mình cũng lo lắng biết bấy nhiêu. Lo chứ, vì đây là học kì đầu mình học chuyên sâu về môn Kinh tế.

Đầu tiên là môn Kinh tế lượng (Econometrics), đáng ra cũng không đến nỗi khó lắm nếu như mình không đang được học với Chris Sims, nhà kinh tế của Princeton vừa đoạt giải Nobel năm 2012. Năm ngoái khi nghe tin thầy đứng lớp dành cho sinh viên đại học thì cả bọn trong khoa kinh tế cảm thấy sướng rơn, vì thiên về bộ môn này chắc ít ai dám khẳng định mình thấu hiểu hơn Giáo sư Sims. Thế nhưng, học xong bữa đầu tiên hồi tuần trước, đi đâu cũng nghe những nỗi niềm hoảng loạn của học sinh, còn mình thì sợ chết đứng. Vốn dĩ theo trường phái Bayesian - một trường phái của Thống kê "đối lập" với trường phái tần suất học (frequentist) - thầy không ngần ngại bỏ ra một bài giảng để thuyết phục chúng tôi rằng những gì sách giáo khoa đang dạy có thể không phải là phương án tốt nhất. Thầy cũng không ngần ngại bỏ ra một bài giảng thứ hai để truyền cho chúng tôi thông điệp rằng "Rất nhiều sách giáo khoa về Kinh tế lượng đang cố gắng thuyết phục các em tin rằng thứ họ dạy là tốt, còn tôi đứng đây là để đặt cho các em nhiều hoài nghi, để các em không ngừng tự hỏi khi đọc những kết quả thống kê". Sau ba buổi học, và sau khi đã bình tâm trở lại (và bản thân thầy cũng dạy chậm lại khi nghe nói học sinh không theo kịp những suy luận nhanh như điện của thầy trong lớp), thì nghĩ kĩ mới thấy mình thật may mắn mới được học một người "gieo rắc hoài nghi" vào suy nghĩ của học sinh như thầy. Nói như Steve Jobs là "Stay Hungry, Stay Foolish", tạm dịch là hãy cứ đói kiến thức, hãy cứ nghĩ rằng mình là kẻ ngu (để rồi còn động lực để học hỏi thêm).

Rồi còn môn Kinh tế Vĩ mô của lớp nghiên cứu sinh tiến sĩ (PhD). Ở Princeton, khoa Kinh tế có đặc cách cho những sinh viên đại học có khả năng được quyền ngồi học chung những lớp đại cương của các nghiên cứu sinh tiến sĩ. Thế là mình cũng mày mò (ham hố) theo học lớp Kinh tế Vĩ mô, ngành mà mình muốn nghiên cứu sau này. Sau hai tuần học, mình mới thấy đây là một quyết định sáng suốt. Đó không phải vì cái danh "học lớp của nghiên cứu sinh", không phải vì cái lợi là được thể hiện mình trong việc nộp đơn sau đại học, mà đó là vì mình có dịp suy ngẫm lại lúc mình học Kinh tế Vĩ mô cấp dưới mình (và chương trình) đã không cẩn thận như thế nào. Một khuyết điểm của môn Kinh tế học là tạo rất nhiều giả định để đơn giản hóa vấn đề, và dường như chương trình kinh tế ở đại học người ta đã đơn giản hóa vấn đề ấy quá mức khiến nó trở nên khó hiểu. Ngẫm lại mới nhớ ra hồi trước học Kinh tế Vĩ mô trung cấp đã có nhiều điều được xem là mặc nhiên, mình phải chấp thuận, mà rất may là học đến đây được gặp Giáo sư Rogerson, người cũng giống như giáo sư Sims, luôn bắt học sinh tự đặt câu hỏi ngược về những điều mà mình viết trên trang vở. Thầy hay hỏi những câu bất ngờ, những câu thường đơn giản, mà ít ai có thể trả lời được, hay thậm chí chưa bao giờ để ý. Có lẽ học lớp này đang và sẽ khiến mình trân trọng hơn cái bộ môn mà mình thích, vì nó lấp đầy những chỗ trống mà người ta tạo ra khi cố gắng đơn giản hóa vấn đề cho học sinh cấp dưới.

Thôi, ngồi nghỉ giải lao 20 phút có thời gian blog để kể lể những cảm nghĩ (dưới áp lực) sau những "ngày đầu tiên đi học". Giờ mới thấy mình đang bắt đầu học kinh tế.

Princeton, 19/9/13.

Tuesday, September 10, 2013

Đi chậm

9 giờ 10 phút tối ngày 8 tháng 9. Lúc đó tôi bước nhanh, nhanh hết sức có thể, để kịp rời khỏi chiếc tàu lửa trước khi nó lại lăn bánh rời ga. Nhà ga dành 10 phút cho hành khách chuyển tàu để về Princeton mà đối với tôi khi bình thường là dư thừa nay lại cảm giác như một cuộc đua với thời gian. Nhiều người trước mặt đi càng ngày càng xa, trong khi những người sau lưng lần lượt vượt mặt tôi; tất cả đều hối hả để bắt kịp chuyến tàu về trường. Trong 10 phút ấy, những cử động của tôi dường như là những cảnh phim quay chậm trong một thế giới thực vẫn quay nhanh. Sau 10 phút ấy, tôi nhìn đoàn tàu rời ga trong khi mình mới chỉ đi được 3/4 quãng đường.

5 giây tủi thân.

Bây giờ về tới Princeton, ngồi ở một cái bàn được bạn tôi giúp chuyển đến bên cạnh một khung cửa sổ mang dấu ấn của một tòa lâu đài cổ, nhìn ra một góc sân vuông cũng đậm chất cổ kính. Căn phòng mới của tôi cũng có một lò sưởi kiểu cũ, cái kiểu mà khi xưa được kết nối với ống khói để ông già Noel chui vào. Mặc dù không được phép đốt lửa trong lò, cái lò sưởi ấy cùng cái sàn gỗ và góc sân nhìn ra từ cửa sổ khiến tôi cảm giác ấm lòng. Ngẫm lại thì kiến trúc lâu đài gothic là một trong những lý do đầu tiên khiến mình thực sự thích Princeton, và bây giờ vẻ đẹp của lối kiến trúc ấy vẫn khiến mình ngưỡng mộ. Ít ra, ngồi tại đây, với mọi việc đã ổn định và được sắp xếp tương đối ổn thỏa, tôi cảm giác mình đang ở nhà, hòa bình và yên ả.

Pyne Hall - khu ký túc xá của tôi năm nay
Photo (c) Princeton Interactive Map

Tôi ngồi gõ những dòng này với cái chân bị bó thẳng. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi nghĩ tôi hiểu được nỗi khổ của những người khó hoặc không thể đi lại tự nhiên. Nhất là những lúc những bó cơ ở bắp chân co thắt lại như chuột rút khi đang đứng, hay lúc đang nằm thì không thể dịch chuyển vì chân không thể co quá 45 độ. Tệ nhất là 3, 4 hôm trước, có khi mình không dám ngồi vì không biết là ngồi rồi còn đủ sức đứng lên không. Tuy cái chân đôi lúc làm tôi thấy nản, nhưng nhiều khi tự nghĩ, con người thì cũng lúc này lúc kia. Chắc phải ngã mới hiểu được đau, để rồi mình quý cuộc đời hơn khi mình đứng dậy đi tiếp.

Đi chậm lại cũng có nhiều cái hay. Nếu không vì dịp này chắc bây giờ mình đang không ngồi yên trong phòng suy nghĩ chuyện đời như bây giờ. Đi chậm lại cho tôi thời gian để suy nghĩ về nhiều thứ, trong đó có tình bạn. Qua đợt về Việt Nam lần này, và trong những lúc khó khăn, tôi mới hiểu được là ai thực sự quan tâm đến mình, ai quan trọng đối với mình, và ai chỉ là những người bạn xã giao. Chỉ một điều mình không nghĩ ra là mình đã làm gì tốt cho các bạn đâu mà lại có được những người bạn quý giá như vậy? Có những con người cho để rồi nhận lại, một cách thực dụng, và có những con người cho mà không toan tính. Tôi thấy mừng vì rất nhiều bạn bè của mình là kiểu người thứ hai.

5 giây hạnh phúc.

5 giây hạnh phúc.



Tuesday, May 14, 2013

Con chó ở khu nhập cư Haiti (Những câu chuyện ở bang Florida phần 2)

(Viết vào 25/3/2012)

Ở Trung tâm Lao động Miami, chúng tôi làm đủ mọi thứ. Công việc tốn thời gian nhất là một cuộc vận động từng gia đình rằng Trung tâm có hỗ trợ tư vấn pháp lý cho những ngôi nhà sắp bị thu hồi. 3 ngày liền, mỗi ngày 2-3 tiếng, chúng tôi đi vòng quanh những cộng đồng dân cư của thành phố Liberty, chủ yếu là cộng đồng người nhập cư từ Cuba (Little Havana) và cộng đồng người Haiti (Little Havana), cùng với những người nhập cư gốc Latin khác. Mỗi buổi chiều, chúng tôi nhận được một danh sách dài của những nhà sắp bị ngân hàng thu hồi (vì không đủ khả năng trả nợ mua nhà), và chúng tôi đến từng nhà để nói với họ rằng họ có thể được tư vấn pháp lý miễn phí.

Tôi đặc biệt thích công việc này. Gõ cửa từng ngôi nhà một có thể hơi... rùng rợn. (Tôi hay tưởng tượgn từ ảnh hưởng của phim Mỹ rằng nếu mình gõ cửa nhà một người lạ nào đó, họ sẽ xuất hiện với khẩu súng trên tay) Tất nhiên sự thật không đến nỗi thế, nhưng cũng không có gì lạ nếu ai đó đóng cửa lại ngay trước mặt mình. Ngoại trừ cái cảm giác "rùng rợn" đó ra thì có một điều khiến tôi rất tihsch công việc này: Tôi nghe được rất nhiều câu chuyện đời của những người cần được lắng nghe. Một buổi chiều, Tôi gặp một người phụ nữ chủ nhân một ngôi nhà mà không hay biết rằng căn nhà mà cô ta thuê sắp bị đóng cửa. Cô ấy rất hoảng hốt và hỏi chúng tôi làm sao để xử lý vụ này. Sau đó cô ấy nói chuyện với chúng tôi suốt 20 phút liền - cứ như là chưa có ai chịu lắng nghe cô ta nói - về chuyện cô ấy bị lừa bởi người cho vay tiền mua căn nhà trước như thế nào. Điều khiến tôi ngạc nhiên là có nhiều người rất cởi mở, dù cho đối với những người lạ như chúng tôi. Sau khi chúng tôi chia tay và đi khỏi căn nhà được vài bước, cô ấy chạy theo đưa cho chúng tôi một lọ dung dịch rửa tay (hand-sanitizer) và nói: "Chắc các bạn phải bắt tay nhiều người lắm."

Tuy nhiên câu chuyện đáng nhớ nhất là ở một ngôi nhà GẦN NHƯ bị bỏ hoang. Vật dụng trong nhà rất ngổn ngang, như thể người chủ ngôi nhà không cảm thấy cần phải dọn dẹp ngôi nhà nữa. Dù gì, họ cũng sắp bị đuổi đi. Tôi gọi vọng vào từ ngoài cổng, rồi một người đàn bà người Haiti bước ra. Bà ta có vẻ mệt mỏi, và tỏ ra buồn phiền khi chúng tôi nói về chuyện thu hồi nhà cửa. Đúng lúc đó, tôi đang chơi với một chú chó trong khu vườn trong khi đồng nghiệp của tôi nói chuyện với người chủ. Bà chủ nhận ra tôi rất thích chú chó, nên bà hỏi "Cậu thích nó à? Thích thì tôi cho." Tôi cười từ chối, đơn giản vì Princeton không cho phép tôi nuôi chó trong khu kí túc xá.

Ngày hôm sau, chúng tôi tình cờ đi ngang ngôi nhà ấy một lần nữa. Lần này chúng tôi gặp người chồng của người đàn bà ngày hôm qua. Con chó thấy chúng tôi rất mừng, chạy vượt ra ngoài hàng rào để đùa giỡn. Khi thấy tôi chơi với chú chó, ông ấy hỏi: "Cậu thích nó à? Thích thì tôi cho." 

Đúng lúc đó, tôi nhận ra được chuyện gì đang diễn ra. Họ rất muốn đẩy chú chó đi cho người khác vì họ không thể giữ nó được nữa. Hôm qua tôi vô ý - đúng là khi người ta bị đuổi ra khỏi ngôi nhà của họ chưa biết đi đâu, thì giữ một chú chó như vậy là một gánh nặng. Buồn thay, trong khủng hoảng kinh tế, chó cũng là nạn nhân. Tiếc rằng tôi phải từ chối một lần nữa. Lần này, khi chúng tôi bước đi xa khỏi ngôi nhà, chú chó không ngừng chạy theo chân tôi, như thể muốn đi theo. Người đàn ông gọi chú chó lại để chúng tôi có thể đi. Nó đứng lại ở giữa hai bên, nhìn từ bên này sang bên kia như phân vân không biết nên chạy với ai, rồi nó chạy về với chủ cũ của nó.